lore

Chương 5629: Sự hòa nhập các bộ lạc chính là nền tảng của một quốc gia.

6,496 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Đấu Bào gật đầu và nói: “Đúng vậy, việc canh tác không chỉ đơn thuần là việc sử dụng phân bón, khai hoang, cày cấy hay tìm nguồn nước; nó còn liên quan đến việc lưu trữ sản phẩm, phòng chống lũ lụt và xây dựng các công trình thủy lợi. Càng là những trang trại quy mô lớn, càng là hình thức canh tác tập thể, thì chi phí sẽ càng thấp và năng suất lại càng cao. Điều này đòi hỏi phải có nhiều người hơn và diện tích đất canh tác rộng lớn hơn. Lý do gia tộc chúng ta trước đây có thể thống trị một vùng đất lớn, chính là nhờ vào những trang trại mà họ sở hữu, và tất cả mọi người trong gia tộc đều đoàn kết, cùng nhau canh tác. Họ còn tuyển dụng những người di cư từ phía bắc hoặc những người gốc Hoa làm công nhân thuê để lao động trên đất đai của mình. Nhờ vào những điều kiện này, nông nghiệp ở miền Nam đã cho ra sản lượng lương thực cao gấp nhiều lần so với trước đây. Nếu mỗi người tự lo cho gia đình mình, sống theo hình thức nông hộ nhỏ lẻ, thì việc duy trì cuộc sống cơ bản cũng sẽ trở thành một vấn đề lớn.”

Lão Tổ mỉm cười và nói: “Đấu Bào đã nói đúng vào điểm then chốt. Thực ra, canh tác còn cần đến sự tập thể hóa và quy mô hóa nhiều hơn so với lối sống du mục. Nó đòi hỏi phải có nhiều đất đai và nhiều người dân hơn. Vì vậy, bản chất của nền nông nghiệp là có khả năng mở rộng mạnh mẽ hơn so với các bộ lạc du mục. Ngay cả triều đại Thương, sau khi bước vào kỷ nguyên nông nghiệp, cũng đã kết thúc thời đại sống lưu lạc và buôn bán khắp nơi, bắt đầu định cư và nhanh chóng chinh phục các bộ lạc và chư hầu xung quanh. Bởi vì họ hiểu rõ rằng chỉ có lối canh tác mới có thể nuôi sống được nhiều người hơn. Và đối với một kinh đô hay thành phố hoàng gia, xung quanh chúng phải có rất nhiều đất canh tác; tất nhiên, những người làm việc trên những đất đai này chủ yếu là nô lệ.”

Hắc Bào vuốt ve con dê của mình và hỏi: “Vậy theo ý của Lão Tổ, việc những người theo đạo Đạo giáo sống yên bình trong làng mạc, không liên lạc với người ngoài, liệu có thể xảy ra không? Tại sao họ lại nói như vậy? Chẳng lẽ việc giữ khoảng cách và không theo đuổi sự tăng trưởng dân số là điều hoàn toàn không thể thực hiện được sao?”

Lão Tổ trả lời một cách bình tĩnh: “Khi đất đai rộng lớn nhưng dân số ít ỏi, khi trên thế giới này dân số chưa vượt qua một triệu người, và cứ cách nhau hàng trăm dặm mới có một bộ lạc canh tác, thì những điều đó vẫn có thể xảy ra. Nhưng đó chỉ là một trường hợp lý tưởng mà thôi. Trên thực

Nhưng vào thời kỳ cổ đại, làm sao có những công trình thủy lợi này được? Chỉ cần một trận lũ lụt xảy ra, không chỉ hàng triệu sinh mạng con người bị mất, mà còn khiến cho toàn bộ thu nhập trong năm đó biến mất hoàn toàn. Trong vài năm liên tiếp, những cánh đồng trở thành vùng đầm lầy. Lúc này, những người dân sống sót của các bộ tộc chỉ có thể buộc phải di cư khắp nơi, giống như các bộ lạc du mục vậy.”

“Nhưng họ không có gia súc, lại mất đi lương thực trong lũ lụt, vậy họ sẽ sống như thế nào? Việc di chuyển hàng trăm dặm đến những ngôi làng khác cũng là điều bất khả thi. Đây chính là điều thứ hai tôi muốn nói: nông nghiệp luôn đối mặt với những thảm họa, có thể là lũ lụt, hạn hán, hay dịch bệnh rầy… Những điều này sẽ khiến cho toàn bộ thu nhập trong năm bị mất hết. Nếu muốn cứu trợ những người bị nạn, thì hoặc là cần một quốc gia thống nhất, mạnh mẽ, sử dụng nguồn thu từ kho lương thực của nhà nước để giúp đỡ mọi người; hoặc là họ sẽ phải đi tìm nơi ẩn náu ở các bộ lạc hoặc ngôi làng lân cận. Dù là trường hợp nào, họ cũng cần phải có sự liên kết với bên ngoài, hay nói cách khác, phải nằm dưới sự cai trị của một chính quyền hay một quốc gia. Nếu không, việc mỗi ngôi làng tự cô lập là điều không thể xảy ra được.”

Hắc Bào cắn răng nói: “Vậy nếu những bộ tộc chuyên canh tác nông nghiệp, hoặc những khu định cư sau này, có thể liên kết với nhau thành một quốc gia thống nhất, với một vị vua chung, thì liệu họ có cần phải chiến tranh, có cần phải xảy ra xung đột nữa không?”

Đấu Bào cười nói: “Thưa Hắc Bào, ý tưởng của ngài thật tuyệt vời. Nếu được thống nhất thành một quốc gia, thì quả thực sẽ không cần phải có xung đột nữa. Tuy nhiên, vấn đề là, mỗi bộ tộc ban đầu đều có một vị vua riêng. Vậy khi hàng chục, hàng trăm bộ tộc này được thống nhất thành một quốc gia, ai sẽ là vua của quốc gia đó? Sau khi một vị vua được bầu lên, những vị vua khác sẽ ra sao?”

Hắc Bào thở dài: “Nhưng chính những bộ tộc này cuối cùng đã liên kết với nhau để thành lập một quốc gia. Thưa Tiên tổ, các đệ tử của ngài nghĩ câu hỏi này có vui không?”

Tiên tổ bình tĩnh lắc đầu và nói: “Câu hỏi các bạn đưa ra rất hay. Về việc các bộ tộc thời cổ đại làm thế nào để kết hợp với nhau thành một quốc gia, hôm nay tôi có thể trả lời các bạn. Đó là vì luôn có một thủ lĩnh bộ tộc mạnh mẽ, có thể sử dụng cả uy lực lẫn sự khoan dung để sáp nhập nhiều bộ tộc khác. Câu nói ‘trên đời này, người có đức đ

Về câu hỏi mà vị Đạo sư mặc áo choàng đã đặt ra – tức là những vị thủ lĩnh của các bộ lạc khác đã đi đâu – thì cũng có thể giải thích được. Nếu những bộ lạc đó muốn quy phục hoặc đầu hàng trước bộ lạc mạnh mẽ này, thì người đứng đầu bộ lạc ban đầu sẽ phải từ chức để hai bộ lạc hợp nhất lại với nhau. Chỉ có một vị thủ lĩnh duy nhất, và đó chính là người đứng đầu bộ lạc có đức độ và năng lực. Tất nhiên, nếu một bộ lạc bị chinh phục bằng vũ lực, thì vị thủ lĩnh của họ chỉ có hai lựa chọn: hoặc là chết, hoặc là buộc phải từ chức. Dù theo cách nào đi nữa, đây cũng là hình thức sáp nhập, và sau khi hợp nhất, chỉ còn lại một vị thủ lĩnh duy nhất. Hình thức này có thể được gọi là “hình thức thống nhất”.

Ngoài ra, còn có một hình thức khác, đó là “hình thức chư hầu”. Đó là những bộ lạc yếu thế hơn phải tôn sùng và nộp cống cho bộ lạc mạnh mẽ hơn, coi họ là chủ nhân, đổi lấy việc được một vị thủ lĩnh có đức độ và năng lực cai trị. Người đứng đầu bộ lạc nhỏ ban đầu sẽ được phong làm chư hầu, giống như cách triều đại Thương đã phong vua của bộ lạc Chu làm chư hầu. Trong trường hợp này, chỉ là danh nghĩa thôi; thực tế, hai bộ lạc vẫn do người đứng đầu ban đầu cai trị và quản lý, không can thiệp vào công việc của nhau, chỉ xác định rõ mối quan hệ chủ-tớ. Bộ lạc nhỏ thường phải nộp thuế và cống phẩm cho bộ lạc lớn trong thời bình, còn bộ lạc lớn thì có trách nhiệm bảo vệ bộ lạc nhỏ khỏi sự xâm lược của kẻ thù bên ngoài và cung cấp sự giúp đỡ khi họ gặp nạn. Hình thức chư hầu này là xu hướng chính trước thời đại Tần, và có thể dùng để giải thích những trường hợp hợp nhất giữa các bộ lạc trong thời cổ đại. Hai vị Đạo sư, các ngài có hài lòng với lời giải thích này không?

1/1 0%