lore

Chương 5397: Nhiệm vụ của quân đội là phòng thủ trong nước

7,270 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thanh Long nhếch mép cười và nói: “Thực ra chúng ta hoàn toàn có thể thành lập quân đội. Từ thời cổ đại cho đến giai đoạn Xuân Thu, các quý tộc trong thời kỳ bộ lạc đều phải gánh vác trách nhiệm chiến đấu. Sau này, dù vào thời kỳ Chiến Quốc, người man rợ và nô lệ được tuyển mộ hàng loạt để nhập ngũ, nhưng điều đó không có nghĩa là các quý tộc, gia tộc giàu có hay giới sĩ phu không thể tham gia chiến đấu nữa. Chỉ là vì họ có thể giữ chức vụ quan lại hoặc nhận được danh hiệu cao quý mà không cần phải ra trận mà thôi. Dù sao, việc ra trận chiến đấu cũng đòi hỏi họ phải học các kỹ năng như bắn cung, cưỡi ngựa…, phải đối mặt với nguy cơ tử vong và mất máu. Nếu quyền lực đã nằm trong tay họ một cách chắc chắn, tại sao lại phải liều mình đến thế?” Chu Tước gật đầu đồng ý và nói: “Đúng vậy. Hơn nữa, vào thời kỳ Xuân Thu, khi các quốc gia tranh giành lẫn nhau và chiến tranh xảy ra thường xuyên, nhiều cuộc chiến là không thể tránh khỏi; nếu không chiến đấu, quốc gia đó sẽ bị diệt vong. Vì vậy, chỉ có giới sĩ phu và người dân mới tham gia chiến đấu, còn người man rợ thì thường bị sử dụng để tiêu diệt dân tộc và người dân của các quốc gia thù địch. Nói một cách nghiêm túc, họ vốn dĩ là tù binh hoặc kẻ thù; việc buộc họ tham gia chiến đấu thì vấn đề về lòng trung thành là rất lớn. Một ví dụ điển hình là trận chiến Mục Dã khi Chu diệt Thương – Thương bị tấn công bất ngờ, lực lượng chính đang ở xa, không còn quân đội, nên đã buộc hàng trăm nghìn nô lệ mang vũ khí ra trận. Kết quả là những người này đã đổi phe, và Thương đã bị diệt vong.”

Thanh Long cười và nói tiếp: “Đúng vậy, chúng ta cũng đã từng trải qua những ví dụ tương tự, phải không? Như cuộc khởi nghĩa tại Kinh Khẩu của Lưu Dụ, và cuộc chiến quyết định tại ngoài đảo Phủ Châu vào Kiến Khang Thành. Trong tình thế cấp bách, quân Bắc Phủ đã được sử dụng làm lực lượng tiên phong để chống lại quân nghĩa quân của Lưu Dụ. Kết quả là những binh sĩ Bắc Phủ, sau một năm bị quân Chu bắt nạt, sỉ nhục, các sĩ quan bị giết, binh sĩ bị đánh đập và xúc phạm, đã đổi phe và giúp quân nghĩa quân của Lưu Dụ tiêu diệt hàng vạn binh sĩ chính của Chu. Đó chẳng phải là một ví dụ sống động sao?”

Bạch Hổ gật đầu và nói: “Vậy nên, các bạn muốn nói rằng, dù là người man rợ hay người dân thường, lòng trung thành của họ thực sự là một vấn đề lớn. Trừ khi thực sự cần thiết, không nên để họ ra trận. Chúng ta vẫn nên quay trở lại thời đại mà Gia tộc quý tộc – các gia tộ

Huyền Vũ thở dài và nói: “Bạch Hổ Ngài ơi, nếu bàn về vấn đề này, chúng ta hãy không đề cập đến việc quay sườn hay những vấn đề liên quan đến người dân bản địa, mà chỉ tập trung vào khía cạnh quân sự và chính trị thuần túy. Tại sao trong thời kỳ Xuân Thu, khi có rất nhiều quốc gia được thành lập, thậm chí còn sớm hơn nữa, trong thời đại Thượng và Hạ, khi con người vẫn đang trong giai đoạn chuyển từ lối sống du mục sang lối sống nông nghiệp định cư, lại có rất nhiều quốc gia nhỏ và bộ lạc nhỏ xuất hiện? Và những người chủ yếu tham gia vào các cuộc xung đột và chiến tranh lại chính là các quý tộc và người dân của các bộ lạc đó?”

Bạch Hổ mỉm cười và nói: “Nếu có nhiều quốc gia, thì cũng có nhiều bộ lạc; tương đối mà nói, số lượng người trong mỗi bộ lạc khá ít – có thể một quốc gia, một bộ lạc chỉ có vài trăm hộ gia đình, khoảng vài nghìn người mà thôi. Ngoại trừ phụ nữ và trẻ em, số lượng người trong bộ lạc thường nhiều hơn số lượng nô lệ. Và vào thời điểm đó, nhiều cuộc xung đột giữa các bộ lạc không để lại nhiều tù binh; bởi vì sản xuất thời kỳ đầu chủ yếu dựa vào việc hái lượm quả cây và săn bắn, trước khi nông nghiệp trở nên phổ biến, không cần nhiều lao động nam giới. Các bộ lạc bị chinh phục thường mang lòng thù hận sâu sắc đối với những người đàn ông trưởng thành của bộ lạc đối thủ; việc bắt họ làm công việc cho mình không mang lại lợi ích gì so với rủi ro họ có thể gây ra bạo loạn. Vì vậy, nhiều bộ lạc đã sử dụng những phương pháp man rợ và tàn bạo để đối phó với đối thủ lớn; phụ nữ và trẻ em thì được giữ lại để sử dụng làm người trong bộ lạc hoặc làm nô lệ sau này. Do đó, số lượng người trong bộ lạc luôn nhiều hơn số lượng nô lệ, và việc chiến đấu là trách nhiệm của những người trong bộ lạc; họ cố gắng tránh để nô lệ tham gia vào chiến tranh – đó chính là một nguyên tắc phổ biến trong thời cổ đại.”

“Khi từ thời cổ đại bước vào thời đại Tam Hoàng Ngũ Đế, nông nghiệp dần được mọi người biết đến và áp dụng rộng rãi; vùng Trung Nguyên trở thành mảnh đất màu mỡ cho nông nghiệp. Những bộ lạc du mục Từng Khi cũng dần chuyển sang định cư và hình thành thành bang, sau đó là các quốc gia, nhưng số lượng người vẫn còn rất ít – một quốc gia chỉ có vài nghìn đến vài vạn người mà thôi. Số lượng người trong bộ lạc vẫn nhiều hơn số lượng nô lệ, và người dân bản địa vẫn nhiều hơn những người sống theo lối sống du mục. Chỉ là vào thời điểm đó, đã bắt đầu xuất hiện sự phân công lao động xã hội: những người tham gia vào

Cuộc nội loạn Tôn Ân vào thời bấy giờ trở nên nghiêm trọng đến vậy, chính là bởi vì những đội quân được giao nhiệm vụ giám sát và kiểm soát dân chúng tại các tiểu bang và quận huyện, phần lớn đã đào ngũ sang phe của Tôn Ân, thay vì đó lại trở thành những kẻ do thám giám sát từng động thái của quân đội chính quyền.”

Bạch Hổ mỉm cười nhẹ: “Đó chính là vấn đề then chốt. Tôi sẽ giải thích chi tiết hơn sau này, nhưng trước hết, hãy cùng xem xét về vấn đề tổ chức quân đội. Cho đến thời kỳ Xuân Thu, quy mô của đất nước vẫn còn khá nhỏ. Khi mới thành lập, triều đình Chu tuyên bố có tám trăm chư hầu, nhưng thực tế, cùng với những bộ lạc mà họ không thể kiểm soát được, có khoảng một hai nghìn bộ lạc rải rác khắp nơi trên đất nước. Một số trong số đó đã chuyển sang canh tác nông nghiệp và định cư, nhưng phần lớn vẫn lang thang khắp nơi; thậm chí việc tìm ra họ cũng không hề dễ dàng. Vì vậy, các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc và chư hầu liên tục diễn ra suốt hàng trăm năm. Dần dần, các chư hầu và bộ lạc ở khu vực Trung Nguyên đã ổn định lại; những bộ lạc du mục lang thang, đi cướp bóc khắp nơi, đã bị đẩy ra khỏi lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, và buộc phải lùi về các vùng biên giới xa xôi. Trật tự tại khu vực Trung Nguyên gần như đã được thiết lập, đó chính là thế giới các chư hầu với vua Chu làm chủ tể chung, và những chư hầu này đa số đều là những quốc gia thành thị nông nghiệp.”

Huyền Vũ gật đầu: “Bạch Hổ nói rất đúng. Đến thời kỳ Xuân Thu, khu vực Trung Nguyên đã gần như ổn định, với nhiều thành phố được xây dựng, và mỗi quốc gia đều có lãnh thổ riêng của mình. Ngay cả những quốc gia được thành lập bởi các dân tộc Hồ Lỗ như nước Zhongshan, cũng đã học theo phương thức canh tác nông nghiệp của người Trung Nguyên và bắt đầu định cư. Từ đó, mô hình “các dân tộc Trung Nguyên sinh sống ở Trung Nguyên, các dân tộc man rợ lui về các vùng biên giới” đã được xác lập. Sau hàng nghìn năm hòa nhập, các quốc gia thuộc khu vực Trung Nguyên đã trở thành những quốc gia chư hầu, coi luật lệ của triều đình Chu là chuẩn mực chung và là ý tưởng cốt lõi để xây dựng quốc gia. Về mặt danh nghĩa, họ đều tôn vinh vua Chu làm chủ tể chung, nhưng thực tế, họ vẫn liên tục giao tranh và xâm lược lẫn nhau với đủ loại lý do và cái cớ. Đến thời kỳ Chiến Quốc, đã xuất hiện khoảng mười quốc gia lớn, trong đó bảy quốc gia mạnh mẽ nhất đứng đầu. Lúc này, quy mô của các cuộc chiến tran

1/1 0%