lore

Chương 665: Hà Đông Bùi Hành Kiệm

10,510 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Tất cả các chữ đó đều nhận ra được, tất cả các từ ngữ cũng đều nghe rõ ràng, nhưng khi kết hợp lại với nhau thì lại hoàn toàn không hiểu gì cả…

Thật là ngượng ngùng……

Một vị Hoàng đế cao quý như Thần, khi trò chuyện với bầy tôi mà lại không hiểu lời họ nói, thế này sao được?

Nhưng Phòng Tuấn thì hoàn toàn không để ý đến sự khác thường này, vẫn tiếp tục nói không ngừng về những ý tưởng trong đầu mình: “…Đại Đường của chúng ta có đất đai rộng lớn, tài nguyên dồi dào, nhưng sản phẩm xuất khẩu không chỉ nên là những loại cây trồng được trồng trên đất này; chúng ta cần tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao như kính, gốm sứ, rượu ngon… Như vậy không chỉ dễ dàng thu được nhiều lợi nhuận hơn, mà còn có thể kiềm chế các xưởng sản xuất tương tự của các quốc gia khác. Chúng ta cần phải mở rộng tối đa việc xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, nhằm tăng thêm thặng dư thương mại và đồng thời làm suy yếu hệ thống kinh tế của các nước láng giềng, khiến cho họ phải đối mặt với tình trạng lạm phát nghiêm trọng, dần dần phụ thuộc vào Đại Đường về mặt tài chính… Giống như những gì con đã làm ở Tây Vực và Tây Tạng…”

Phòng Tuấn càng nói càng hào hứng.

Ngày xưa, ông chỉ là một phó huyện trưởng phụ trách công tác nông nghiệp; quyền lực lớn nhất của ông chỉ là đi xuống đồng ruộng để chỉ đạo công việc canh tác…

Khi nào ông mới có cơ hội được đưa ra những ý kiến quan trọng, để cùng với đế quốc hoạch định tương lai?

Nhưng Lý Nhị Bệ nghe mãi mà càng thấy bối rối, cảm thấy vô cùng ngượng ngùng…

Về cơ bản, Lý Nhị Bệ vẫn hiểu được phần nào ý của Phòng Tuấn – đó chính là sử dụng các biện pháp thương mại để kiềm chế nhập khẩu, mở rộng xuất khẩu; nhập khẩu thì chỉ mang lại ít lợi nhuận, còn xuất khẩu thì mang lại nhiều lợi nhuận hơn, tức là thu được lợi nhuận ròng…

Lấy tiền của các quốc gia khác để làm cho Đại Đường ngày càng giàu có hơn.

Nhưng điều này có liên quan gì đến các loại thuế khóa hay thuế bán hàng trên thị trường? Và cái gọi là lạm phát lại là cái gì vậy?

Nhìn thấy Phòng Tuấn nói hăng hái đến mức nước miếng bắn tung tóe, Lý Nhị Bệ chỉ có thể cau mày, vỗ nhẹ vào mặt bàn bên cạnh và nói lạnh lùng: “Ngươi chỉ là một vị hầu tước cấp ba mà thôi; chức vụ của ngươi cũng chỉ là một viên quan quản lý ở vùng xa xôi… Những vấn đề quan trọng liên quan đến chính sách quốc gia như thế này, đó là trách nhiệm của các đại thần trong triều đình… Ngươi tự ý can thiệp vào những việc này, ý đồ của ngươi là gì?”

“Ừm…”

Phòng Tuấn suýt nữa bị nước bọt của mình làm ngạt thở, đứng đó nhìn chằm chằm xuống phía dưới mặt Lý Nhị Bệ.

Vị hoàng đế này… thật sự quá u mê rồi!

Dù ta không phải là đại thần cố vấn, nhưng những lời ta nói đều là những ý kiến quan trọng để giúp đất nước phát triển nhanh chóng; đó là kinh nghiệm hàng nghìn năm tích lũy được, là những chiến lược thiết thực cho Đại Đường. Ta có phải là người xâm phạm thẩm quyền hay sao?

Thôi kệ… tính tình nóng nảy của ta… cũng đành chịu thôi! Dù sao người đó cũng là hoàng đế mà.

Lý Nhị Bệ ngẩng mắt nhìn Phòng Tuấn – người đang đứng đó với vẻ mặt buồn bã và tức giận – rồi ho khan một tiếng, nói một cách hời hợt: “Nhưng xét đến việc ngươi đã cố gắng hết sức vì đất nước, ta sẽ không truy cứu gì cả. Ngươi hãy trở về soạn lại bản điều trình đó một cách chi tiết hơn, sau đó nộp lên cho ta. Sau khi ta xem xét xong, sẽ gửi nó cho các đại thần cố vấn để họ thảo luận và quyết định xem liệu nó có thích hợp hay không. Như vậy cũng coi như là đã công lao không uổng phí.”

Ai ngờ Lý Nhị Bệ lại muốn nghiên cứu kỹ lưỡng bản điều trình đó trước, để hiểu rõ ý nghĩa sâu xa bên trong.

Phòng Tuấn chỉ biết đáp lại một cách mơ hồ: “Thần tuân theo mệnh lệnh của bệ hạ.”

Lý Nhị Bệ vẫy tay: “Ta hơi mệt rồi, ngươi cứ đi đi.”

“Vâng!” Phòng Tuấn cúi đầu chào rồi rời khỏi đại điện.

Nhìn bóng dáng vạm vỡ của Phòng Tuấn khuất dần ở cửa ra vào, Lý Nhị Bệ vuốt ve khuôn mặt mình, thở dài và lẩm bẩm: “Thật là xấu hổ… sao mình lại không theo kịp tư duy của cái nhóc đồ khốn nạn này chứ? Chẳng lẽ mình đã già rồi sao?”

Trong lòng, ông vẫn quyết định sẽ đợi đến khi Phòng Tuấn nộp bản điều trình lên, mới nghiên cứu kỹ lưỡng. Nếu không, trước mặt Phòng Tuấn, ông còn không biết phải phản ứng thế nào nữa… Vì ông vẫn chưa hiểu rõ nội dung cốt lõi của nó là gì cả.

Có lẽ Công chúa Cao Dương cũng không thể tránh khỏi được, thôi thì cứ tự mình rời cung đi đã.

Đi dạo một hồi, trong lòng Lý Nhị Bệ đầy oán giận.

Chết tiệt, kẻ được gọi là “đế vương muôn thuở” ấy, tầm nhìn của hắn còn hạn chế như con ếch trong giếng, làm sao có thể hiểu được những ý chí hùng vĩ và hoài bão lớn lao?

Phòng Tuấn ngước nhìn trời thở dài: “Lòng ta vốn hướng về Minh Nguyệt, nhưng đáng tiếc, ánh sáng của nó lại chiếu xuống những con kênh rãnh…”

“Phòng Phù Mã Đây là lúc thi ca trào dâng à? Ôi trời, thật may mắn cho tôi, được chứng kiến tác phẩm mới của Phòng Phù Mã…”

Một giọng nói đột ngột khiến Phòng Tuấn giật mình.

Ngẩng đầu nhìn lại, hóa ra mình đã vô thức đến trước tháp chuông của cơ quan quản lý thuộc Bộ Hành chính, nằm phía đông của Điện Thái Cực…

Bộ Hành chính và Bộ Trung thư đặt hai bên Điện Thái Cực, một bên trái, một bên phải.

Trước cửa Bộ Hành chính có tháp chuông, còn trước cửa Bộ Trung thư là tháp trống; nơi Phòng Tuấn đang đứng chính là phía đông của tháp chuông, phía sau là một khu rừng um tùm xanh tươi, và phía trước đó là Học viện Hoàng Văn.

Trước mắt anh ta, có một thanh niên mặc áo khoác Nho gia, khuôn mặt tuấn tú, đang đứng chắp tay và chào hỏi Phòng Tuấn theo nghi thức của người ít tuổi hơn.

Người này tuổi tác còn lớn hơn Phòng Tuấn vài tuổi, nhưng lại thực hiện nghi thức này một cách nghiêm túc, rõ ràng là một sinh viên của Học viện Hoàng Văn. Học viện Hoàng Văn và Học viện Sùng Hiền đều là những trường học quý tộc hàng đầu của Đại Đường, cả hai đều có cấp bậc ngang nhau. Vị trí “giáo thụ” của Phòng Tuấn tại Học viện Sùng Hiền vẫn chưa bị bãi bỏ, nghĩa là anh ta vẫn giữ vai trò giáo viên tại đó.

Việc một sinh viên của Học viện Hoàng Văn chào hỏi một giáo viên của Học viện Sùng Hiền theo nghi thức này cũng là điều bình thường…

Phòng Tuấn cười nhẹ: “Viết thơ làm gì chứ? Chỉ là để bày tỏ vài cảm xúc thôi mà, có gì to tát đâu.”

Thanh niên tuấn tú ấy có vẻ hơi tiếc nuối: “Chỉ có hai câu thôi ạ? Thật đáng tiếc… Dù những câu thơ này ngôn từ giản dị, nhưng những tâm trạng bất lực và oán giận trong đó đã được thể hiện một cách rất rõ ràng. Tài năng thiên bẩm của Phòng Phù Mã, chúng tôi thật sự không sánh kịp.”

Phòng Tuấn vuốt vuốt mũi; mặc dù người khác khen ngợi những thứ mà anh ta “đạo lại”, nhưng trong lòng vẫn cảm thấy hài lòng… Ai bắt được chủ sở hữu đích thực của những thứ đó để kiện anh ta về tội vi phạm bản quyền chứ?

Anh ta cảm thấy rất ấn tượng với chàng trai trẻ tuổi này.

“Xin hỏi ngài tên là gì?” Phòng Tuấn hỏi.

Chàng trai trẻ có vẻ hơi lo lắng và trả lời:

“Phòng Phù Mã là một học giả tại Viện Chương Hiền; ngài là thầy của tôi, làm sao tôi dám gọi ngài là ‘anh’ được? Hơn nữa, Phòng Phù Mã còn là một danh nhân nổi tiếng thời bấy giờ, được mệnh danh là bậc thầy về thơ ca… Thật sự làm tôi không dám… Tôi tên là Bùi Hành Kiện, đến từ Hà Đông; ngài chỉ cần gọi tôi là ‘Shouyue’ là được.”

Phòng Tuấn bỗng ngừng lại.

Bùi Hành Kiện?

Pei Shouyue?

Trời ạ!

Vừa ra khỏi nhà đã gặp phải một bậc thầy vĩ đại như vậy…

Đây chính là một nhân vật lịch sử mà Phòng Tuấn từng rất ngưỡng mộ – một người vừa giỏi văn vẽ vừa xuất sắc trong quân sự. Trong lịch sử, người này cũng đầy rẫy những câu chuyện huyền thoại.

Ông không chỉ giữ các chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Lễ Bộ và Tướng lĩnh Quân đội Phía Tây, mà còn lập chiến công lớn ở Tây Vực, bắt giữ được Ašina Fuoyanduzhi, vua của người Tây Đột Quýc nổi loạn… Các quan lại đã dựng bia tưởng niệm công lao của ông vào năm Thành Tử Diệp.

Điều đáng nể nhất chính là tài năng nhận biết và sử dụng con người của ông… Cuối thời Minh, Peng Sunyi đã nhận xét: “Người có tài năng nhận biết con người và biết cách áp dụng những phẩm chất tốt đẹp của họ, luôn có cái nhìn sâu sắc và tầm nhìn xa trông rộng; những người được ông ấy trao cơ hội đều trở thành những tướng lĩnh xuất sắc.”

Tại sao lại như vậy nhỉ?

Thủ tướng Lý Kính Huynh đã khen ngợi sự tài năng của Wang Bo, Yang Jiong, Lu Zhaolin và Luo Binwang, và đề xuất họ cho Bùi Hành Kiện… Nhưng Bùi Hành Kiện không coi trọng họ: “Nếu muốn đạt được những mục tiêu lớn lao trong sự nghiệp, người ta cần đặt tầm nhìn và kiến thức lên hàng đầu, còn kỹ năng văn chương chỉ là yếu tố thứ yếu. Người như Wang Bo dù có tài năng văn chương, nhưng lại thiếu sự điềm tĩnh và thích khoe khoang; họ không thể trở thành những người lãnh đạo lớn được. Yang Jiong thì khá ổn định và cẩn thận, có thể đảm nhận được chức vụ quan lại cấp huyện… Còn những người khác thì e rằng sẽ không có kết cục tốt đẹp.”

Và quả thực, những gì Bùi Hành Kiện nói đã trở thành sự thật.

Và những vị phó tướng mà ông ta tự mình đề cử và giới thiệu, chẳng hạn như Trình Dục Đình, Trương Thiên Ngôn, Cùy Trí Độc, Vương Phương Dực, Tầm Kim Bì, Lưu Kính Đồng, Quách Đài Phong, Lý Đa Tộc, Hắc Chỉ Thường Chí… hầu hết đều trở thành những danh tướng lỗi lạc của thời đại đó. Nếu cộng thêm những người được ông ta tiến cử để giữ chức vụ thái thú hoặc tướng quân, số lượng này lên tới hàng chục người…

Quả là tầm nhìn sâu sắc, không kém gì những người có khả năng “du hành xuyên thời gian”!

Người ta nói rằng, lý do Bùi Hành Kiện có thể nhận biết con người một cách chính xác như vậy, là bởi vì ông ta am hiểu sâu rộng về lịch âm dương, ngũ hành, tướng mạo… Không chỉ có thể đánh giá con người một cách chuẩn xác, mà mỗi khi ra trận, ông ta còn có thể dự đoán được những thời điểm thuận lợi, vì vậy các trận chiến luôn mang lại chiến thắng cho ông ta…

Trong suốt triều đại nhà Đường, Bùi Hành Kiện thực sự là một trong những danh tướng xuất sắc nhất!

Năm Kiến Trung thứ ba của Đường Đức Tông, viên quan Yến Chân Thanh đã đề xuất với Hoàng đế rằng nên phong thần cho 64 vị danh tướng cổ đại và xây dựng đền thờ để tưởng niệm họ; trong số đó có “Thượng thư Bộ Lễ Văn Hiệp công Bùi Hành Kiện”. Đến năm Xuān Hè thứ năm của triều đại Song Huy Tông, triều đình nhà Song cũng theo tập tục của triều đại Đường mà xây dựng đền thờ cho các danh tướng cổ đại, và trong số 72 vị danh tướng được vinh danh, Bùi Hành Kiện cũng nằm trong danh sách đó. Cuốn “Truyện 100 vị tướng trong 17 bộ sử” được biên soạn vào thời nhà Bắc Tống cũng ghi nhận tên Bùi Hành Kiện trong số những vị danh tướng lớn.

Tất nhiên, lý do Phòng Tuấn Chí quan tâm đến Bùi Hành Kiện chính là bởi vì ông ta là đệ tử của Tô Định Phương!

1/1 0%