lore

Chương 1179: Thơ để ngợi ca tâm huyết

10,143 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lưu Kí Ngước nhìn lên, cô thấy trên bức tường trắng tinh những dòng thơ được viết bằng mực đen!

“Tuyết dày đè lên những cây thông xanh…”

“Cây thông vẫn thẳng tắp và kiên cường…”

“Muốn biết thông cao quý đến mức nào, hãy chờ đến khi tuyết tan…”

Lúc đầu, ngoài việc nhận thấy phong cách viết mạnh mẽ và ngôn từ đầy sức sống, cô còn nghĩ rằng đây chỉ là những dòng vẽ nguệch ngoạc của một đứa trẻ nhỏ. Nhưng sau khi suy ngẫm kỹ hơn, cô nhận ra rằng giữa những dòng chữ ấy ẩn chứa một tinh thần hùng vĩ, bất khuất, thể hiện sự kiên định và lòng dũng cảm không sợ khó khăn.

Lưu Kí, vốn là một người am hiểu về thơ ca, càng thấy rằng bài thơ này thật sự mạnh mẽ và hào phóng, khiến người đọc cảm thấy mới mẻ và xúc động sâu sắc!

Khi nhìn xuống phía cuối, cô thấy tên tác giả: Phòng Tuấn…

Vào thời kỳ đầu thành lập Đại Đường, trên thi đấu trường thơ ca thời Trinh Quan, chủ yếu là các nhà thơ trong cung đình, họ tiếp tục theo truyền thống thơ cung đình thời Nam Triều, sử dụng những ngôn từ hoa mỹ nhưng hơi trống rỗng, như Yu Shinan, Wei Zheng, Yang Sidao, Li Baiyao…

Ban đầu, hầu hết các nhà thơ vẫn có những tác phẩm mạnh mẽ và giản dị, nhưng sau khi vào cung đình, họ ngày càng viết nhiều thơ để giao tiếp và đối đáp với nhau, và phong cách thơ của họ cũng trở nên lòe loẹt và phù phiếm hơn, thể hiện rõ ràng xu hướng quý tộc hóa và cung đình hóa. Họ coi trọng vẻ đẹp hình thức và kỹ thuật, theo đuổi sự hoa mỹ của ngôn từ, sự cân đối trong cấu trúc và âm điệu, nhưng nội dung và chủ đề lại khá hạn chế.

Hầu hết các tác phẩm thơ ca thời kỳ này đều tập trung vào những chi tiết nhỏ nhặt và sự tinh xảo trong cách diễn đạt, khiến cho tinh thần và sức mạnh vốn có của chúng bị mất đi.

Tuy nhiên, các tác phẩm thơ của Phòng Tuấn lại hoàn toàn khác biệt! Ông ít khi sử dụng những ngôn từ hoa mỹ để trang trí, thay vào đó, ông thường sử dụng ngôn từ giản dị và mộc mạc để miêu tả những bức tranh hùng vĩ, như bài thơ “Người bán than”, “Nhớ về Trận Chi Bích”, hay chính bài thơ “Cây thông” trước mắt này!

Dù vẻ ngoài có vẻ đơn giản và dễ hiểu, như những dòng chữ mà một đứa trẻ nhỏ cũng có thể viết được, nhưng thực chất, ngôn từ trong những bài thơ này lại rất hùng vĩ và sâu sắc, thể hiện tinh thần mạnh mẽ, kiên cường và giàu lòng khoan dung. Chính vì vậy, bài thơ này đã gây ra một ấn tượng sâu sắc đối với Lưu Kí!

Giống như trong một đám người xinh đẹp nhưng thiếu

Bài thơ tuyệt vời quá!

Lưu Kí khen ngợi một cách thầm lặng…

Khi đọc lại bài thơ này lần nữa, ông càng nhận ra rõ hơn những nỗi uất ức, sự kiên cường và bản lĩnh ẩn chứa trong từng dòng chữ!

Thơ là để bày tỏ tâm hồn con người… Đây chính là lời phàn nàn trước sự bất công mà Phòng Tuấn đã gặp phải, là lời khẳng định rằng dù có bao nhiêu khó khăn, ông vẫn sẽ giữ vững phẩm chất của mình!

Đôi mắt Lưu Kí lấp lánh; vào khoảnh khắc này, ông quên hết những lời chế giễu vừa rồi của Phòng Tuấn, quên hết những sự sỉ nhục mà Phòng Tuấn đã gây ra cho mình, quên hết mọi hận thù và giận dữ… Bởi vì ông nhìn thấy cơ hội được danh tiếng cùng với bài thơ này, được ghi chép vào sử sách!

Lưu Kí không còn quan tâm đến điều gì nữa; ông lập tức ra lệnh cho các viên quan đi theo mình: “Nhanh chóng mời những người chuyên in ấn tốt nhất đến đây, dù giá cả có cao đến đâu cũng phải tìm người giỏi nhất!”

Người ta thường có thói quen khi gặp những bài thơ hay, văn bản xuất sắc thì muốn sao chép lại để thưởng thức sau này. Nếu tìm thấy những câu thơ của các bậc hiền triết trên vách đá hay trong hang động, họ càng muốn in chúng ra để lưu truyền cho đời sau.

Các viên quan đó không suy nghĩ kỹ lưỡng; họ chỉ nghĩ rằng Lưu Kí muốn in bài thơ này để lưu giữ, nên liền vội vàng đi tìm người chuyên in ấn.

Nguyễn Nghĩa Tiết lập tức tức giận… Ban đầu, ông tưởng Phòng Tuấn muốn nhận tội, nhưng khi chuẩn bị xong bút mực giấy đá, ông mới nhận ra rằng kẻ này chỉ đơn giản là muốn viết thơ mà thôi… Viết thơ thì viết đi, chẳng lẽ người ta không được phép nói hay viết gì sao?

Nhưng khi Phòng Tuấn viết xong, Nguyễn Nghĩa Tiết lại phát điên lên!

“Trời ạ! Anh là cây thông vững chãi, còn tôi lại là bông tuyết tan biến ngay khi mặt trời lên à?”

Điều này đồng nghĩa với việc ông bị miêu tả là kẻ ác độc, ngược đãi người có phẩm chất cao thượng như Phòng Tuấn… Thật là không thể chấp nhận được!

Vì vậy, khi Lưu Đức Uy đến, Nguyễn Nghĩa Tiết mới phát ra những lời la mắng giận dữ như vậy… Giờ đây, Lưu Kí lại muốn in bài thơ này ra…

“Lũ khốn nạn! Có lẽ các ngươi muốn cả thế giới đều biết bài thơ này, để mọi người đều gán cho ta danh hiệu kẻ phản bội trung thành, là tên gian ác vĩnh hằng phải không?”

“Dám nói bậy!”

Nguyễn Nghĩa Tiết chẳng quan tâm liệu Lưu Kí có phải là viên quan thanh tra hay không; dù ông ta muốn cáo buộc ai đi nữa cũng được, nhưng bài thơ này tuyệt đối không được phép lan truyền ra ngoài!

“Đây là nhà tù của Bộ Hình luật… Làm sao ngươi dám tiết lộ tình hình ở đây? Còn coi trọng quy tắc nữa không?”

“Quy tắc à? Ha ha!”

Lưu Kí cười khẩy, khoanh tay sau lưng và nói một cách thoải mái: “Không có chuyện gì là không thể nói ra được! Phòng Nhị Lang là một bậc thầy văn chương xuất sắc nhất của Đại Đường, tài năng văn chương và thư pháp của ông ấy thực sự rất xuất sắc. Khi tôi nhìn thấy các tác phẩm của Phòng Nhị Lang, lòng tôi không thể không cảm thấy ngưỡng mộ; vì vậy tôi đã in chúng lại và giữ làm gia bảo. Việc này có liên quan gì đến ngươi chứ? Ngươi tỏ ra lo lắng, tức giận đến thế… Chẳng lẽ bài thơ này có ý ám chỉ gì đặc biệt đối với ngươi sao?”

Nguyễn Nghĩa Tiết cảm thấy bị đè nặng trong lòng!

Không chỉ là ý ám chỉ đâu…

Điều này giống như việc họ đang chỉ trích tôi trực tiếp, thậm chí còn đưa tôi lên cột nhục của lịch sử… Cuối cùng, ông ấy cũng hiểu được tại sao khi Vua Ngụy và Lý Thái đối mặt với bài thơ “Người bán than” đó, họ đã cảm thấy thất vọng và tức giận đến thế nào, nhưng lại không thể làm gì được…

Nơi đây là nhà tù của Bộ Hình luật; nếu ông ấy quyết tâm ngăn cản Lưu Kí, thì Lưu Kí cũng không thể làm gì được. Nhưng làm vậy cũng chẳng có ích gì cả… Lưu Kí không phải là kẻ ngốc, còn Lưu Đức Uy và Trương Dung Kỳ cũng không phải là người thiếu trí tuệ; họ chắc chắn không thể không nhớ hết hai mươi từ đó… Hơn nữa, ở đây còn có rất nhiều tù nhân và thư ký nữa…

Liệu ông ấy có thể giết hết tất cả họ để che đậy sự thật không?

Việc bài thơ này lan truyền ra ngoài là điều không thể tránh khỏi…

Lưu Đức Uy và Trương Dung Kỳ cũng đều cảm thấy xấu hổ.

Mặc dù bài thơ này chỉ trích những kẻ như Nguyễn Nghĩa Tiết, nhưng thực chất nó cũng đang chỉ trích cả Bộ Hình luật. Một người trong số họ là người nắm quyền lực tại Bộ Hình luật, người kia là một vị thượng thư… Về cơ bản, cả hai đều không thể tránh khỏi trách nhiệm.

Chỉ là ý tưởng của họ cũng giống hệt như Nguyễn Nghĩa Tiết, làm sao có thể ngăn chặn được sự lan truyền của bài thơ này? E rằng từ nay về sau, Bộ Hình sẽ trở thành nơi bị cả thiên hạ lên án…

Lưu Kí nhiệt tình kéo Phòng Tuấn ngồi xuống và khen ngợi: “Phong cách văn chương của Ngài thực sự là biểu tượng của Đại Đường – hùng vĩ, thoáng đãng mà lại đầy khí phách chính nghĩa; so với những thứ chỉ có vẻ bề ngoài hoa mỹ nhưng không hề có nội dung hay khí phách thì cao cấp hơn gấp trăm lần! Tôi thật may mắn khi được chứng kiến những tác phẩm xuất sắc liên tiếp của Ngài, đó quả là niềm vui lớn trong đời tôi!”

Phòng Tuấn chớp mắt, tự hỏi: “Ông già này đang muốn cái gì vậy? Dù bài thơ của tôi viết hay đến đâu, thì nó có liên quan gì đến ông chứ? Sao ông lại không giữ hận nữa vậy?” Anh chỉ có thể cười một cách gượng ép: “Hehe…”

Lưu Kí vỗ vào ngực mình, khuôn mặt già nua nhưng đầy khí phách: “Người ta nói rằng thơ là để bày tỏ tâm hồn; bài thơ của Ngài đầy bi thương, hùng vĩ và chính nghĩa, thể hiện rõ tinh thần cao thượng của một quan lại. Tôi đã đọc kỹ, và thấy trong đó ẩn chứa biết bao oan ức! Ngài yên tâm đi, từ xưa đến nay, cái ác không thể áp đảo được cái thiện; làm sao có thể lo lắng về những lời vu khống của kẻ xấu xa chứ? Là một viên quan thanh tra, tôi cam kết sẽ không ngần ngại hy sinh mọi thứ để minh oan cho Ngài, làm sao có thể để những người trung thành phải chịu uất ức được?”

Phòng Tuấn càng thêm bối rối… Người này không chỉ không giữ hận, mà còn muốn minh oan cho mình nữa sao? Chẳng lẽ chỉ vì tài năng “vượt trội”, có thể viết thơ chỉ trong vòng bảy bước, và vì tài năng “độc đáo” ấy mà Lưu Kí này đã cảm động sao?

Anh quay đầu nhìn lại bài thơ trên tường, cảm thấy hoang mang. Mặc dù bài thơ này rất phù hợp với hoàn cảnh, nhưng liệu nó có thể đủ sức khiến kẻ thù quên đi hận thù và phải khuất phục không… Không thể nào đâu! Ông già này đang muốn cái gì vậy?

Nguyễn Nghĩa Tiết mặt tái nhợt, quát lên: “Lưu Thanh tra, ăn uống thì có thể tùy tiện, nhưng lời nói thì không thể tùy tiện được! Vụ án của Phòng Tuấn đã có bằng chứng rõ ràng, làm sao ông có thể dễ dàng phủ nhận chúng chỉ bằng vài câu nói như vậy?”

“Nếu còn dám nói nhảm nữa, tin không, ta sẽ kiện ngươi đấy?”

Lưu Kí không hề nhướng mày, chỉ cười ha hà và nói: “Ta vốn là một Thượng thư giám sát các quan lại; suốt đời này, ta đã nhiều lần gửi bản tường trình lên triều đình và kiện cáo không biết bao nhiêu người… Chưa từng có ai dám kiện lại ta cả… Cậu Vệ Thị lang, sao không thử xem?”

Nguyễn Nghĩa Tiết tức đến mức không thể nói ra lời nào. Việc gửi bản tường trình kiện cáo người khác chính là lĩnh vực chuyên môn của Lưu Kí; ông ta làm việc này rất giỏi, làm sao có thể thắng được Lưu Kí chứ?

Không lâu sau, các quan thanh tra liền vội vàng đến cùng những người thợ in ấn.

Văn phòng Thanh tra và Bộ Hình luật cách nhau không xa; vì nhiệm vụ giám sát các quan lại, văn phòng Thanh tra tự nhiên không cho phép những người thợ in ấn này vào đây thu thập bằng chứng.

Lưu Kí hào hứng đứng dậy và chỉ đạo những người thợ in ấn in lại cẩn thận những dòng chữ trên tường…

Sau khi công việc in ấn hoàn tất, ông ta trước tiên chào tạm biệt với Phòng Tuấn, sau đó cúi chào nhẹ Lưu Đức Uy; không hề để ý đến Trương Dung Kỳ đang đứng đó với vẻ mặt kỳ lạ và Nguyễn Nghĩa Tiết đang tức giận, ông ta nhanh chóng dẫn đoàn các quan thanh tra rời đi.

Đến cửa ra, Lưu Kí thì thầm ra lệnh: “Nhanh chóng trở về văn phòng Thanh tra đi; ta sẽ lập tức soạn thảo bản tường trình để kiện cáo Bộ Hình luật!”

1/1 0%