lore

Chương 2166: Đại Đường Toàn Ngôi Sao

10,108 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Loại hình phong bào này đã tồn tại từ rất lâu trước đây.

Theo truyền thuyết, vào thời Xuân Thu, người sáng lập nhà Mặc là Mạc Điệp đã dùng gỗ để chế tạo những con chim bằng gỗ; sau ba năm mới hoàn thành. “Mạc Tử làm ra chiếc phong bào bằng gỗ, mất ba năm mới xong, nhưng chỉ bay được một ngày rồi hỏng”, và ông được coi là tổ tiên của loại phong bào này.

Sau đó, Mạc Điệp truyền lại kỹ thuật chế tạo phong bào cho học trò của mình là Công Thú Bán. Công Thú Bán cải tiến vật liệu dùng để làm phong bào, từ bỏ loại gỗ nặng nề, thay vào đó sử dụng tre nhẹ hơn. Anh ta cắt tre thành từng miếng nhỏ, đánh bóng chúng, sau đó nung nóng và uốn cong chúng thành hình con quạ, gọi là “mộc quạ”; chiếc phong bào này có thể bay được tới ba ngày liên tục, “Người ta từng làm ra chiếc phong bào bằng gỗ, dùng nó để nhìn ngó thành phố Tống”.

Tuy nhiên, sau này người ta chứng minh rằng đây chỉ là một truyền thuyết không đáng tin cậy.

Lần đầu tiên phong bào được sử dụng trong quân sự một cách có bằng chứng lịch sử là vào thời kỳ tranh giành giữa Chu và Hán. Tướng Hán là Hàn Tín đã sử dụng phong bào để đo khoảng cách các đường hầm dưới cung điện Vĩ Dương…

Sau đó, phong bào được coi là một loại vũ khí quân sự và được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh; thông tin về nó xuất hiện thường xuyên trong các sách sử và tài liệu lịch sử. Cho đến thời điểm Nam Bắc Triều, loại vũ khí từng được trân trọng này không còn bị giới hạn trong quân đội nữa, mà dần dần lan rộng ra trong dân gian, trở thành hoạt động giải trí cho cả hoàng gia lẫn người dân.

……

Khi nghe nói Phòng Nhị Lang muốn làm phong bào, rất nhiều thợ giỏi trong xưởng sản xuất súng đạn đều bỏ công việc đang làm, đổ xô theo Liễu Thiện ra sân sau.

Tre, giấy và dây rơm đều là những thứ thông thường; xưởng sản xuất súng đạn không thiếu thứ gì cả, vì vậy rất nhanh chóng, một đống nguyên liệu đã được tích trữ trong sân.

Một người thợ già với bộ râu bạc đứng lên, cười nói: “Việc làm phong bào, tôi rất am hiểu; quý ông hãy yên tâm nhé!”

Phòng Tuấn nói: “Chậm đã, lần này chúng ta sẽ làm một loại phong bào khác biệt so với trước đây. Khoảnh khắc nữa, hãy mang giấy và bút đến đây; tôi sẽ vẽ phác thảo trước, sau đó các bạn hãy làm theo đó.”

Mọi người đều rất hào hứng.

Ai mà không biết Phòng Nhị Lang là người có tài năng phi thường, luôn nghĩ ra những ý tưởng tuyệt vời? Dù là thủy tinh, xi măng, hay thuốc súng, vũ khí, tất cả đều xuất phát từ đầu óc thiên tài này, và giờ đây chúng đã trở nên phổ biến khắp nơi trên th

Người thợ già kia cầm bản vẽ trên tay, có vẻ bối rối: “Một chiếc diều lớn như thế này… có thể bay được không?”

Phòng Tuấn không thể giải thích cho ông ta rằng việc một chiếc diều có thể bay lên trời hay không không phụ thuộc vào kích thước của nó, mà là liệu người chế tạo có thể duy trì sự cân bằng của diều để nó tận dụng đúng cách lực nâng của không khí hay không; ngay cả một khối sắt nặng vài tấn, nếu được thiết kế cân đối, cũng hoàn toàn có thể bay được…

Chỉ có thể nói: “Có thể bay được hay không, chỉ cần làm xong rồi mới biết.”

“Này!”

Thấy Phòng Tuấn tự tin như vậy, các thợ cũng hăng hái phân công công việc: người thì gọt tre, người thì nung tre đã gọt qua lửa rồi uốn thành hình dạng cần thiết, người thì cắt giấy, người thì chuẩn bị hỗn hợp keo dán…

Chiếc diều do Phòng Tuấn thiết kế khá đơn giản, chỉ là loại diều giống con giun đất – loại diều phổ biến sau này.

Nhưng vào thời điểm đó, nó lại thật sự rất mới lạ…

Hiện nay, các loại diều rất hiếm thấy vì quy trình chế tạo phức tạp và đòi hỏi kỹ năng cân bằng; những người nông dân bình thường không thể làm được, còn những thợ có tay nghề thì lại bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền, không thể tự do bỏ công việc hàng ngày để làm diều.

Vì vậy, diều vẫn chỉ là đồ chơi dành cho giới quý tộc.

Những chiếc diều thông thường thường được làm từ tre, mang hình dạng chim én, chim chóc, đại bàng… Còn loại diều giống con giun đất – với hàng chục chiếc diều hình tròn được nối lại với nhau tạo thành hình dạng giống con giun đất – thì hoàn toàn là điều chưa từng có trước đây.

Tuy nhiên, chỉ là hình dạng mới lạ mà thôi; về mặt kỹ thuật, không có gì quá khó khăn.

Phòng Tuấn vuốt râu suy nghĩ một lúc, thấy nó có vẻ quá bình thường, liền sai vài binh sĩ trở về thành phố, tìm đến một tiệm làm giấy và mời một thợ làm giấy đến.

Vào thời điểm đó, giấy rất quý giá; loại giấy tre do Phòng Tuấn phát minh cũng mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Trước đây, nghề làm giấy được coi là một nghề thủ công cao cấp; chủ yếu, những người làm giấy này chuyên sản xuất đồ giấy dùng trong lễ tang, như xe ngựa, người giấy…

Nhưng Phòng Tuấn không quan tâm đến những quy định đó.

Sau khi mời thợ làm giấy đến, Phòng Tuấn bảo anh ta làm một cái đầu rồng.

Rồng là biểu tượng của hoàng đế; tuy nhiên, trước thời Đường, việc kiểm soát việc sử dụng hình ảnh rồng không quá nghiêm ngặt; không hề có tình trạng như thời Minh-Thanh, nơi việc sử dụng hình ảnh rồng bị coi là âm mưu phản loạn hoặc sẽ bị trừng phạt nặng nề. Chỉ cần không sử d

Làm một chiếc diều hình rồng thì càng không thành vấn đề, bởi vì loại diều này không có móng vuốt; nói một cách chính xác thì, con rồng không có móng vuốt chính là một con trăn…

Nghệ nhân làm giấy này đều có tay nghề được truyền từ tổ tiên; họ cả đời chỉ tập trung vào một lĩnh vực duy nhất, vì vậy tay nghề của họ thật sự rất xuất sắc.

Mặc dù chưa từng làm qua hình dạng rồng trước đây, nhưng dựa vào bản vẽ hình rồng do Phòng Tuấn cung cấp, đôi bàn tay thô ráp ấy đã khéo léo điều khiển những sợi tre mỏng manh để tạo ra một chiếc rồng giống y hệt bản vẽ. Đến buổi trưa, chiếc rồng khổng lồ ấy đã được hoàn thành và đặt xuống đất, vững chãi không lay chuyển.

Sau đó, họ phủ giấy lên chiếc rồng và sai người gọi một học giả giỏi vẽ tranh đến, để anh ta sử dụng các loại màu nước để tô vẽ thêm, và cuối cùng, một chiếc rồng sống động đã được hoàn thành.

Phòng Tuấn nhìn đồng hồ, thấy đã gần cuối giờ Chiều, liền sai người đến nhà Lý Sơn Nông Trang để xem các em học sinh đã tan học chưa, rồi đón hai đứa bé Lang Quân về.

Sau đó, Phòng Tuấn bảo người mang đến một chiếc ghế nhỏ, ngồi xuống và tự mình buộc dây cho chiếc diều.

Đây chính là bước quan trọng nhất trong việc làm diều; nếu không buộc các sợi dây sao cho chúng tập trung lực vào một điểm, thì chiếc diều sẽ không thể giữ được thăng bằng và chắc chắn sẽ không thể bay được.

Các thợ thuộc xưởng sản xuất súng đạn đều đã bị Liễu Thiện đuổi đi; sau khi hoàn thành việc làm diều, họ lập tức quay lại làm việc...

Khi hai đứa con trai được đưa về, chiếc diều hình rồng khổng lồ ấy gần như đã hoàn thiện.

Chỉ có Liễu Thiện là hơi lo lắng, ngập ngừng nói: “Chiếc diều này thật sự rất tinh xảo… Nhưng… ông chủ ơi, dù sao thì nó cũng được làm bởi một người thợ làm đồ tang lễ mà… điều này có thể coi là một điều kiêng kỵ!”

Người thợ làm đồ tang lễ làm công việc gì vậy?

Họ chuyên sản xuất đồ dùng dùng trong lễ tang…

Nhưng Phòng Tuấn chỉ lắc đầu và nói: “Loại đồ này, tin thì tin, không tin thì không tin thôi… Nếu bạn dùng nó để làm đồ tang lễ, thì nó chính là đồ tang lễ; còn nếu bạn dùng nó để chơi đùa, thì nó hoàn toàn không liên quan gì đến đồ tang lễ cả.”

Liễu Thiện chỉ biết im lặng.

Vài chiếc xe ngựa dừng lại trong sân văn phòng của xưởng sản xuất súng đạn; một đám trẻ em la hét và nhảy xuống từ trên xe ngựa, chạy đến trước mặt Phòng Tuấn.

Các đứa trẻ nhỏ thì mới bắt đầu biết đi vững vàng, còn những đứa lớn hơn như Lý Tượng – con trai của Phòng Tuấn – đã là những thiếu niên tuổi teen. Tất cả chúng đều học tại trường học ở núi Lệ Sơn, và phần lớn trong số chúng đều là bạn bè từ thuở nhỏ.

Phòng Tuấn nhìn quanh một vòng và thầm nghĩ: “Trời ạ, đây quả là ‘đội hình toàn sao’ của Đại Đường!” Ngoài Lý Chấn, Lý Tượng và Lạc Bính Vương ra, còn có con trai cả của Lý Thừa Càn là Lý Tượng; Thẩm Trường Thiện – người mất cha mẹ và được chú Thẩm Văn Bản nuôi dưỡng; và Jiang Ke – người từng được gọi là “Tướng tả uy danh sa mạc, Thủ tướng hữu tiếng tăm trong hội họa” khi Yến Lập Bản giữ chức Thủ tướng… Trong vài thập kỷ tới, một nửa số quan lại quyền lực tại trung ương Đại Đường đều nằm trong số này. Tất cả họ đều là con cháu của các gia đình quyền quý…

Dù có những người như Lý Chấn – kẻ luôn muốn chống đối quy tắc hiện hành – nhưng phần lớn trong số họ đều là những người có năng lực thực sự, chứ không phải những kẻ lười biếng, chỉ biết dựa vào công lao của tổ tiên để gây rối.

“Wow…” Một nhóm nhỏ bé reo lên khi nhìn thấy những chiếc diều dài và hình ảnh con rồng sống động trên mặt đất.

Phòng Thục và Phòng Dưỡng vội vàng chạy đến bên cạnh Phòng Tuấn, ôm lấy hai chân ông và nhìn những chiếc diều mà reo hò vui mừng.

Lý Tượng là một cậu bé trông rất mạnh mẽ; trông cậu ta giống hơn anh trai mình là Lý Chấn, chứ không giống cha mình là Lý Chấn với vẻ oai phong lịch lãm. Cậu bé lau nhổn mũi và nhìn lên Phòng Tuấn hỏi: “Chú ơi, đây là diều à? To thật! Nó có thể bay được không ạ?”

Còn Điền Nhân Kiệt thì ngoan ngoãn hơn nhiều; cậu bé tiến lại gần Phòng Tuấn và nói một cách chắc chắn: “Diều do chú ở trường Phòng Gia làm ra chắc chắn sẽ bay được đấy!”

Ban đầu, cậu bé muốn gọi Phòng Tuấn là “thầy”, nhưng ông kiên quyết từ chối.

Nhưng cha của cậu ấy, Điệp Tri Thức Tấn, đã đi làm công tác ở nơi khác hai năm trước, vì vậy ông đã để Điền Nhân Kiệt ở lại kinh thành. Phòng Tuấn được gửi đến Học viện Chương Văn để học tập, và mối quan hệ giữa hai người rất thân thiết; Phòng Tuấn luôn coi cha mình như người thân ruột thịt.

Lạc Bính Vương bước lên, sờ sờ vào vòi nước, rồi nhìn những chiếc phong bào hình gián có ba mươi cái “thân” trải dài trên mặt đất, lắc đầu với vẻ nghi ngờ: “Dài thế này, chắc là không thể bay lên được đâu!”

Phòng Tuấn chỉ biết cười không nói được.

Đúng rồi, thằng bé này quả thật giống nhóm của Lý Chuyên Nghiệp… từ nhỏ đã có tính cách hoài nghi và thích thách mọi thứ…

“Nói mãi các bạn cũng không tin, thôi được, hay là chúng ta thử kéo chúng ra ngoài xem sao! Nào, lên xe đi, đến Lạc Du Nguyên để thả phong bào nào!”

Phòng Tuấn Đại hô lên, và mọi người đều đồng ý ngay lập tức.

“Đi thôi! Thả phong bào nào!”

Một nhóm thanh niên tranh nhau lên xe ngựa; chỉ có một người cất những chiếc phong bào ra riêng và kéo theo sau, cùng nhau hành trình về phía Lạc Du Nguyên.

1/1 0%