lore

Chương 189: Thực ra, tôi là một nhà thơ (Phần 1)

9,493 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Việc viết sách đối với Phòng Tuấn thực sự không hề khó khăn chút nào.

Nếu bắt anh ta viết một bài luận sâu sắc nhằm phê phán quá khứ và rút ra bài học cho hiện tại, hoặc một bài viết truyền cảm hứng sâu sắc về tâm hồn con người, có lẽ sẽ không thành công. Nhưng nếu chỉ yêu cầu anh ta tự bịa đặt nội dung từ những kiến thức toán học đã học khi còn đi học, thì cũng chỉ là việc kích thích não bộ hoạt động mạnh mẽ hơn mà thôi.

Nhưng anh ta thực sự muốn làm điều gì đó đặc biệt.

Toán học là nền tảng của các ngành khoa học, điều này được mọi người biết đến. Tuy nhiên, trong thời cổ đại của chúng ta, toán học lại luôn ở vị trí yếu thế nhất.

Trong lịch sử, có rất nhiều bậc thầy Nho giáo, những chuyên gia về văn hóa dân tộc, nhưng số nhà toán học, vật lý học, hóa học thì lại rất ít ỏi. Chỉ có một vài người như Tử Chông Chi được biết đến, cùng với một số người làm nghề luyện đan, họ đã có những đóng góp nhỏ trong lĩnh vực hóa học. Ngoài ra, thì gần như không có ai cả.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này liên quan đến hệ thống tuyển chọn nhân tài trong xã hội phong kiến.

Kỳ thi khoa cử chỉ tập trung vào bốn cuốn sách và năm kinh điển; người nào học giỏi thì sẽ được bổ nhiệm làm quan. Vì vậy, mọi người đều tranh nhau học những cuốn sách và kinh điển này. Nếu kỳ thi khoa cử đổi thành kỳ thi về nghề cắt móng chân, chắc chắn sẽ xuất hiện một loạt những “bậc thầy cắt móng chân”, và trình độ cắt móng của họ sẽ vượt trội so với cả thế giới…

Thực tế, vào thời Đường triều, toán học đã từng được đưa vào khuôn khổ kỳ thi khoa cử.

Ngay cả ngày nay, kỳ thi khoa cử hàng ba năm vẫn có một mục gọi là “Ming Suàn Khoa”, nhằm tuyển chọn những người có tài năng về toán học.

Sau khi Lý Trị–người thanh niên này–lên nắm quyền, Trường Quốc Tử Giám đã mở ra trường chuyên đào tạo toán học – “Suan Học Quán”, với 30 sinh viên theo học. Trường này có các giáo sư và trợ giáo chuyên về toán học để giảng dạy hàng ngày. Như vậy, trong Trường Quốc Tử Giám đã có tổng cộng sáu trường học, bao gồm Quốc Tử, Thái Học, Tứ Môn, Lǜ Học, Thư Học và Suan Học.

“Yêu Đạo” Lý Thuần Phong còn biên soạn ra mười cuốn sách toán học, bao gồm 《Chu Bì Suan Jing》, 《Cửu Chương Suan Shù》, 《Hải Đảo Suan Jing》, 《Tử Tôn Suan Jing》, 《Hạ Hầu Dương Suan Jing》, 《Trương Kiều Kiến Suan Jing》, 《Trùc Thủc》, 《Ngũ Cao Suan Jing》, 《Ngũ Kinh Suan Shù》 và 《Tích Cổ Suan Shù》, được gọi chung là 《Suan Jing Thập Thư》, và được sử dụng làm giáo trình chính thức.

Việc

Nhưng điều kỳ lạ là, đến thời Đường muộn, kỳ thi Toán học đã bị ngừng lại…

Một môn học có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như Toán học lại đột ngột dừng lại trên đất nước Trung Hoa, và sau đó chỉ còn được duy trì bởi một số người yêu thích Toán học trong dân gian.

Lý do khiến kỳ thi này bị ngừng là vì có quá ít người tham gia.

Tại sao lại như vậy?

Bởi vì nhà nước đã đặt ra quy định rằng chức vụ Quốc tử đại phó thuộc hạng ngũ phẩm trên, trong khi chức vụ Tiên sinh Toán học lại thuộc hạng cửu phẩm dưới – đây là hạng chức vụ thấp nhất. Vì vậy, các trường học dạy Toán học liên tục bị đóng cửa rồi mở lại, không có sự ổn định; học sinh cũng cảm thấy việc học Toán học không còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì giáo viên chỉ là những người có chức vụ thấp, còn học sinh thì phải chờ đợi đến hạng hai mươi mới có cơ hội phát triển… Thà rằng họ tìm con đường khác để phát triển còn hơn.

Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Tại sao các nhà cai trị qua các thời đại đều không coi trọng khoa học dựa trên Toán học, mà lại chỉ chú trọng đến những lĩnh vực huyền bí như Nho học?

Lý do rất đơn giản: Bởi vì Toán học hoàn toàn không hữu ích đối với chế độ độc tài…

Các sách vở Nho học thì khác; bạn có thể hiểu chúng theo cách này, tôi có thể hiểu theo cách khác; mỗi nhà cai trị đều có thể tự do diễn giải chúng theo ý muốn của mình, biến chúng thành công cụ để duy trì quyền lực độc tài.

Ngành Thiên văn học cũng vậy.

“Yêu đạo” Lý Thuần Phong vừa là một nhà thiên văn học, vừa giỏi Toán học và am hiểu về các vì sao; ông ta thậm chí đã có thể dự đoán được rằng Vũ Tắc Thiên sẽ chiếm ngai vàng sau bốn mươi năm… Nhưng vị trí của các vì sao có liên quan gì đến việc Vũ Tắc Thiên chiếm ngai vàng chứ? Không hề có liên quan gì cả; chỉ là các dự đoán về thiên văn như vậy mà thôi…

Chức năng của Nho học cũng tương tự như vậy.

Tại sao các đại thần phải trung thành với hoàng đế? Không có lý do gì cả; Khổng Tử đã nói như vậy, Mạnh Tử cũng nói như vậy; các kinh điển Nho giáo đều quy định như vậy, vì vậy bạn phải làm theo.

Trái ngược với đó, Toán học thì không thể được sử dụng như vậy; chỉ vì một cộng một bằng hai, thì liệu điều đó có nghĩa là tôi phải trở thành hoàng đế không? Điều đó thật là vô lý.

Vì lý do này, vì quyền lực, các nhà cai trị đều đồng loạt bỏ qua Toán học…

Có thể nói rằng, hầu hết mọi vấn đề trong lịch sử cổ đại của chúng ta đều xuất phát từ những nhà cai trị.

Không phải vì nhữ

Đây là nỗi buồn chung của cả dân tộc.

Phòng Tuấn không nghĩ rằng mình thực sự có thể thay đổi thế giới này, hay chỉ bằng vài khẩu hiệu đã có thể làm thay đổi ý chí của tầng lớp cai trị.

Mặc dù không đến nỗi bị thiêu sống như những kẻ luôn tuyên truyền “vũ trụ vô hạn”, nhưng việc muốn làm lung lay căn bệnh đã ăn sâu vào xã hội này cũng không hề dễ dàng chút nào…

Toán học bị toàn xã hội coi thường – đó là sự thật.

Vì vậy, để khôi phục danh tiếng cho toán học, Phòng Tuấn không thể chỉ tập trung vào bản thân ngành toán học mà thôi.

Trước hết, anh ta cần phải làm một việc khác… Đó là trở nên nổi tiếng.

Trong thời đại này, danh tiếng quan trọng hơn cả vàng bạc; có được danh tiếng, bất cứ việc gì bạn làm cũng sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Sau khi ăn sáng xong, Phòng Tuấn đang ngồi trong phòng đọc sách, suy nghĩ về kế hoạch “trở nên nổi tiếng để có uy tín”, thì có người hầu từ dinh thự của Ngô Vương đến tìm anh ta.

Tuy nhiên, do An Châu nằm ở miền nam Chu, khí hậu mùa đông ẩm ướt và lạnh giá, Lý Khuất– người đã ở lại đó thời gian dài– không thích nghi được với điều kiện thời tiết và đã bị ốm trước Tết. Khi Lễ Thượng Nguyên đến gần, tình trạng sức khỏe của Lý Khuất càng trở nên nghiêm trọng, khiến Lý Nhị Bệ rất lo lắng, và đã ra lệnh cho “bách kỵ binh” đưa Lý Khuất về Trường An để điều trị.

Tất nhiên, đó chỉ là lý do được công bố chính thức mà thôi.

Còn về những điều xảy ra riêng tư thì không ai biết được.

Đối với chuyện này, Phòng Tuấn cảm thấy hơi thất vọng. Là một hoàng tử, đây là cơ hội hiếm có để xa rời thành phố, quản lý một vùng đất và thể hiện khả năng của mình, nhưng tất cả lại bị lãng phí như vậy.

Sau khi chuẩn bị xong, anh ta thay một bộ áo lụa Thục có họa tiết kín đáo, đội một chiếc khăn trùm đầu và đeo một viên ngọc Bạch Ngọc màu trắng mịn, sau đó rời nhà.

Chiếc xe ngựa di chuyển theo con đường chính ngoài thành phố Tân Phong, hướng về phía tây.

Hôm nay không có gió, thời tiết đã ấm lên; Phòng Tuấn ngồi trên xe, kéo rèm xuống và nhìn ngắm cảnh vật xung quanh, lòng anh ta cảm thấy sự hùng vĩ và bao la của thiên nhiên. Khi qua Cầu Ba, những bức tường thành màu xám đen trải dài đến tận chân trời, với vẻ rộng lớn và hùng vĩ của chúng, khiến Phòng Tuấn cảm thấy một sự trầm trọng và sâu sắc.

Một thành phố hùng vĩ, rộng lớn gấp mười lần so với khu vực cũ của Tây An thời sau này; ngay trước mắt là những cổng thành cao khoảng hơn hai mươi trượng, với năm cánh cổng rộng đủ để năm chiếc xe ngựa song hành đi qua cùng lúc. Những người đến từ muôn nơi tấp nập không ngừng, nhưng mỗi người đều đi theo con đường riêng của mình, tạo nên một cảnh tượng sầm uất và huy hoàng khó có thể diễn tả bằng lời.

Lúc bấy giờ, mặt trời mới mọc, ánh nắng rực rỡ phủ khắp các bức tường thành bao la; những mái vòm lát ngọc trên cửa thành phản chiếu ánh sáng vàng óng ánh. Trong mắt Tang Ly, Chang An lúc này dường như biến thành một thành phố vàng rực, chỉ có thể xuất hiện trong những thế giới tiên cảnh.

Dù đã đi qua những cổng thành này không biết bao nhiêu lần, nhưng mỗi khi ngẩng đầu nhìn lên, anh vẫn không thể cưỡng lại sức hút của ánh sáng vàng rực cùng với vẻ đẹp cổ kính, sâu lắng của thành phố này – một thủ đô đã tồn tại qua hàng ngàn năm. Sau khi ngắm nhìn một lúc lâu, anh thì thầm: “Chang An… quả thật là Chang An.”

Chính tại thành phố này, Lý Nhị Bệ đã khởi xướng thời đại thịnh vượng của Đường Triều và được mọi dân tộc trên thế giới tôn vinh là “Thiên Khả Hãn”; vài năm sau, chủ nhân của thành phố này trở thành người con trai thứ ba của gia đình Lý – người đã đưa Đại Đường đến đỉnh cao của sự thịnh vượng.

Qua bao nhiêu lần thay đổi của các vương triều, Chang An đã chứng kiến sự nổi lên và suy tàn của Đại Hán; chứng kiến sự trỗi dậy và sụp đổ nhanh chóng của triều đại Sui mạnh mẽ; và bây giờ, nó đang chứng kiến sự trỗi dậy và ngày càng thịnh vượng của Lý Đường…

Thời tiết ấm áp lên, xe cộ và ngựa người tấp nập trên đường phố.

Có rất nhiều học giả và những người có địa vị cao đi qua đây với dáng vẻ nghiêm túc; cũng có những thanh niên giàu có, đi cùng đám tôi tớ, thu hút sự chú ý của mọi người; xen kẽ giữa họ là những người Thổ Nhĩ Kỳ mặc áo da mỏng, buộc tóc thành bím và đi giày da đen; những người từ Ấn Độ Đông mang vòng tai và áo choàng; cùng những người Trung Á mặc áo khoác tay ngắn, mũ da được thêu hoa văn và trang trí bằng lưới tơ… Mọi người đi qua mà không hề ngạc nhiên.

Phòng Tuấn say mê ngắm nhìn vẻ đẹp của thời Đường thịnh vượng – điều mà trong kiếp trước anh chỉ có thể thấy trên tranh vẽ – và cảm thấy như đang lạc vào một thế giới mộng mơ.

Khi xe ngựa đến dinh thự của Ngô Vương, Phòng Tuấn bước xuống xe, ra lệnh cho người lái xe chờ ở cổng, rồi theo sự dẫn đường của người gác cổng bước vào bên trong.

Vừa bước vào cổng, anh liền nghe thấy tiế

1/1 0%