lore

Chương 4742: Tâm Phật, Tính Phật

9,607 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Yin Wencao nói: “Nghe nói đây là ý tưởng của Thượng thư phải Phụ thịch, Quốc công Việt Phòng Tuấn, được các đại thần nhất trí ủng hộ và được Hoàng thượng chấp thuận. Hoàng thượng đã ra lệnh cho Quan giám sát kinh thành Mã Châu tiên phong thực hiện thử nghiệm trong phạm vi quản hạt Kinh Triệu Phủ, để xem xét những ưu điểm và nhược điểm, từ đó hoàn thiện chính sách trước khi áp dụng rộng rãi khắp cả nước.”

“Năm xưa, Đại Tông Hoàng Đế từng khen ngợi con trai thứ hai của mình là ‘người có tài năng lãnh đạo’, không ngờ chỉ sau vài năm ngắn ngủi, người này đã sở hữu được tầm nhìn và quyết đoán mạnh mẽ như vậy; đây thật sự là một bổ sung quý báu cho triều đình, cũng là phúc lành cho đế quốc.”

Yin Wencao gật đầu. Đối với những người như ông – những người chuyên về lĩnh vực kỹ thuật – thì Phòng Tuấn quả thực là một thiên tài. Những tác phẩm của ông về các môn Toán học, Hình học, Vật lý… đã được các nhà trí thức khắp nơi coi là chuẩn mực. “Nếu như trước đây, tôi chắc chắn sẽ phản đối chính sách này. Bởi vì tầm ảnh hưởng của Phật giáo đã vượt xa Đạo giáo của chúng ta rồi; nay lại bắt buộc mọi người phải chịu cùng một mức thuế, chẳng phải chúng ta sẽ càng yếu thế hơn sao? Nhưng bây giờ, vì đã quyết định dùng kiến thức để duy trì truyền thống của Đạo giáo, thì việc có nhiều tài sản hay nhiều tín đồ hay không cũng không còn quan trọng nữa; quan trọng là phải kiên định theo đuổi con đường này. Hơn nữa, tôi nghe nói lần này cải cách thuế không đơn thuần là tăng mức thuế, mà là muốn dựa vào số lượng đất đai để quyết định mức thuế phải nộp.”

Thành Hiền Anh hơi ngạc nhiên, suy nghĩ về ý nghĩa sâu xa của điều này. Mặc dù ông tự nhận mình “theo đạo”, nhưng ông vẫn am hiểu rõ ràng về những vấn đề lớn của đất nước. Hiện nay, hệ thống thuế của Đại Đường đang áp dụng “chế độ thuế cày cấy và lao động”; nói cách khác, thuế được tính dựa trên cả đất đai và dân số. Nguyên tắc cơ bản của thuế đất đai là “chế độ phân phối đất đai công bằng”. Tuy nhiên, do mới thành lập quốc gia không lâu, tình trạng chiếm đoạt đất đai đã trở nên rất nghiêm trọng trên khắp cả nước. Lần này, thông qua việc “đo đạc diện tích đất đai trên toàn quốc” do Hứa Kính Tông phụ trách, người ta đã phát hiện ra rằng rất nhiều đất đai đã bị các quý tộc chiếm đoạt, khiến cho vô số hộ nông dân trở thành những người “không còn tài sản gì để dựa vào”, buộc phải phụ thuộc vào các quý tộc đó, hoặc phải thuê đất, hoặc phải nộp đất cho họ. Kết quả là diện tích đất đai được ghi nhận tr

Triều đình không cần phải tốn nhiều công sức để giám sát xem đất đai thuộc về ai; chỉ cần đảm bảo rằng những người có quyền lực không cố ý giấu giếm đất đai là được. Người dân cũng không cần lo lắng vì mất đất đai; những người mất đất có thể vào thành phố làm việc hoặc thuê đất từ những người có quyền lực để canh tác, và không còn phải chịu thuế trên đất đai nữa…

“Nếu biện pháp này được áp dụng khắp thiên hạ, thì một thời đại thịnh vượng rực rỡ sẽ kéo dài hàng trăm năm! Chính sách này chắc chắn sẽ được ghi danh vào sử sách.” Thành Hiền Anh ngưỡng mộ nói.

Yin Wencao hỏi: “Vậy giáo phái Đạo của chúng ta có ủng hộ chính sách này của triều đình không?” Thành Hiền Anh cười và nói: “Đúng như bạn nói, chúng ta không hài lòng với việc người ta chiếm đoạt những địa điểm quan trọng để xây dựng chùa chiền, cũng không muốn lừa gạt người dân để kiếm tiền. Chúng ta chỉ cần tập trung vào việc nghiên cứu học vấn mà thôi, không cần quan tâm đến những điều khác.” So với tầm ảnh hưởng lớn lao của “đạo quốc gia”, số lượng các tu sĩ Đạo thực sự đăng ký trong danh sách lại ít ỏi, đó cũng là lý do khiến giáo phái Đạo bị lép vế so với Phật Giáo – ngưỡng cửa để gia nhập giáo phái Đạo quá cao, không phải ai muốn tham gia cũng có thể làm được.

Số lượng người ít đồng nghĩa với chi phí vận hành thấp; giáo phái Đạo cũng không có thói quen xây dựng nhiều chùa chiền hay trang trí lộng lẫy cho các vị thần, vì vậy nguồn lực hiện có đã đủ để duy trì hoạt động bình thường của giáo phái.

Yin Wencao cũng có suy nghĩ tương tự: “Lần này, Hoàng đế đã ra sức hỗ trợ giáo phái Đạo bằng cách xây dựng nhiều chùa chiền xung quanh kinh đô Chang’an; sau khi những chùa này được hoàn thành, giáo phái Đạo sẽ không cần phải xây dựng thêm nữa.”

Thành Hiền Anh liên tục gật đầu: “Đúng là như vậy!”

*****

Đại Từ Ân Tự ban đầu được xây dựng vào thời đại Vua Đạo Vũ của Bắc Ngụy, sau đó bị phá hủy trong các cuộc chiến tranh. Đến thời đại Sui, Vua Văn Đế đã xây dựng lại chùa Vô Lỗ trên nơi cũ, nhưng chùa này cũng bị hư hỏng nặng nề trong các cuộc chiến. Hiện nay, Đại Từ Ân Tự được xây dựng lại trên nền đất của chùa Vô Lỗ, với quy mô và kiến trúc đứng đầu thiên hạ: “Nguyên liệu xây dựng bao gồm đá quý, cây cối quý, và các loại gỗ tốt; trang trí thì sử dụng ngọc trai, màu sơn, đá đỏ và vàng bạc… Toàn bộ chùa có gần 1.900 căn phòng, với nhiều tầng lầu và cung điện lộng lẫy.”

Khi Đại sư Huyền Trang trở về từ Ấn Độ với kinh Phật chân thực, ông đã đ

Bên trái, giữa những cây cổ thụ cao vút, chính là khu vực cốt lõi nhất của Đại Từ Ân Tự: Viện Phiên Kinh. Vào buổi chiều, tán lá um tùm của những cây cổ thụ che khuất ánh nắng mặt trời; ngay cả vào mùa hè, bóng râm dày đặc và không khí mát mẻ vẫn lan tỏa khắp nơi. Chỉ có tiếng ve kêu từng lúc từng lúc phá vỡ sự yên bình của ngôi chùa, cùng hương trà thơm ngát thoang ra từ những cửa sổ mở. Những con chim đậu trên cành vỗ cánh và líu lo ríu rít. Bên trong căn phòng thiền, Huyền Trường mặc bộ áo sư sãi màu trắng ngà ngồi kiết già, mắt nhắm lại; đối diện ông là một vị sư già mặc áo rách rưới, với vẻ mặt u sầu, đang quỳ gối – đó chính là sư Y Báo đã xuất hiện tại trang trại Lý Sơn. Một vị sư khác ngồi đối diện hai người kia; khuôn mặt anh ta tuấn tú, da trắng mịn, trông khoảng năm mươi tuổi, nhưng ánh mắt sáng trong và đầy trí tuệ khiến người ta khó đoán được tuổi thật của ông… Vị sư này đang thong dong thưởng thức trà. Bên ngoài cửa sổ, tiếng ve kêu vang lên; Y Báo rót thêm trà vào cái cốc của vị sư kia và hỏi với nụ cười: “Không biết loại trà này có hợp khẩu vị của sư huynh không?” Vị sư cười rạng rỡ, hàm răng trắng muốt, giọng nói trong trẻo như tiếng suối róc rách, rất dễ chịu: “Mặc dù đây là lần đầu tiên tôi thử trà rang, nhưng nguyên tắc của trà rang là đắng trước sau đó mới ngọt – giống như hành trình tu luyện của chúng ta: đau khổ trong kiếp này, hạnh phúc trong kiếp sau. Người sáng tạo ra nghệ thuật uống trà như thế này chắc chắn là người có tâm hồn thanh khiết và trí tuệ sâu sắc.” Y Báo ngạc nhiên: “Sư huynh chưa bao giờ thử trà rang sao?” Vị sư cười càng rạng rỡ hơn: “Tôi sống trên núi Song Phong, hai mươi năm qua chưa bao giờ bước chân xuống thế gian phàm tục. Tôi luôn lắng nghe lời dạy của thầy và cảm nhận sức mạnh của Phật pháp, đắm chìm trong đó đến mức không thể rời xa… Làm sao tôi có thời gian để quan tâm đến những điều vụn vặt như thức ăn uống được?” Y Báo thở dài: “Sư huynh có lòng thành kính với Phật pháp như vậy, lại còn được thừa hưởng sự truyền thừa của Đạo Tín Thiền sư… Rồi một ngày nào đó, chắc chắn sư huynh sẽ thành lập một phái và truyền bá Phật pháp.” Nghe vị sư nhắc đến “thầy”, Huyền Trường, người vừa mới nhắm mắt thiền định, bỗng mở mắt và hỏi nhẹ: “Khi còn trẻ, tôi đã đi khắp núi non, vượt qua hàng ngàn dòng sông để đến núi Song Phong bái kiến Đạo Tín Thiền sư. Nhờ sự chỉ dạy của ngài, nhiều điều tôi không

Hồng Nhẫn chắp tay lại, giữ thái độ nghiêm túc và kính trọng, nói: “Thầy tôi sống trong sự yên bình và không làm gì cả; Phật pháp của ngài vô cùng sâu sắc, ngài đã vượt ra khỏi thế tục, thân xác này chỉ như mây khói, xuất hiện vào buổi sáng rồi tan biến vào buổi tối, không đáng để quan tâm.” Huyền Trang và Nghĩa Báo đều cảm thấy vô cùng kính trọng ông ta. Mặc dù họ chỉ nghe danh tiếng của Hồng Nhẫn mà chưa từng gặp mặt, nhưng qua thái độ và lời nói của ông ta, họ có thể nhận ra rằng ông ta là người am hiểu sâu sắc về Phật pháp và có tu hành cao thâm; quả thực xứng đáng là người kế thừa tinh thần của Thiền sư Đạo Tín… Người ta nói rằng Thiền sư Đạo Tín có ý định truyền lại pháp môn cho ông ta, để ông ta tiếp quản dòng truyền thống Thiền phái… Nghĩa Báo không nhịn được mà hỏi: “Anh trai, lần này anh xuống núi đến kinh thành, nhằm mục đích đoàn kết giới Phật để cùng nhau thực hiện những việc lớn lao… Anh có ý kiến gì muốn chia sẻ không?” Hồng Nhẫn thở dài và nói: “Hiện nay, giáo phái Đạo gia đang áp đặt sức ép lớn, và với sự hỗ trợ của hoàng gia, họ càng trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn. Nếu giới Phật không thể ứng phó đúng cách, thì ảnh hưởng của họ chắc chắn sẽ suy yếu, điều đó sẽ khiến số lượng tín đồ giảm sút đáng kể… Khi một bên mạnh lên thì bên kia sẽ yếu đi, và sẽ rất khó để cạnh tranh lại được nữa!” Huyền Trang nhíu mày và nói: “Chỉ cần Phật pháp được lan truyền rộng rãi, ánh sáng Phật sẽ soi sáng mọi nơi, và tự nhiên sẽ có nhiều tín đồ đến theo đuổi đạo Phật, bảo vệ Phật pháp… Cần gì phải tranh đấu vì những lợi ích cá nhân, đảo lộn trước sau?” Ông không quan tâm đến cuộc cạnh tranh giữa giáo phái Phật và Đạo gia hiện nay. Trong thế giới này, vì có sự khác biệt về niềm tin và giáo lý giữa hai giáo phái, nên việc ai theo đạo Phật hay đạo Đạo đều là điều tự nhiên và không có gì sai trái cả… Điều duy nhất chúng ta có thể làm là truyền bá Phật pháp và giúp đỡ các tín đồ… Nếu chỉ vì muốn thu hút tín đồ mà phải tranh đấu gay gắt với giáo phái Đạo gia, thì những tín đồ đó có ý nghĩa gì? Nhưng Nghĩa Báo không nghĩ như vậy: “Cuộc đối đầu giữa Phật và Đạo không phải là trường hợp duy nhất… Từ xưa đến nay, mỗi khi giáo phái Đạo gia chiến thắng, giáo phái Phật luôn phải chịu những hậu quả nặng nề… Thầy có quên những sự kiện bi thảm đã xảy ra dưới thời Vua Vũ của triều Bắc Chu không? Hơn bốn vạn ngôi chùa đã bị phá hủ

1/1 0%