lore

Chương 3616: Phân quyền tổ chức theo hướng ngang và dọc, các văn kiện khế ước định ra trật tự thi

18,072 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong các vương triều cổ đại của Hoa Hạ, nếu làm suy yếu ảnh hưởng của Nho giáo, đồng thời thu hút sự tham gia của Pháp gia và Mặc gia, để Nho giáo đóng vai trò chính trong việc quản lý bằng “đức trị”, Pháp gia xây dựng “lễ nghi” làm công cụ pháp luật, còn Mặc gia chú trọng đến nguyên tắc “dân làm gốc” và phát triển nông nghiệp, công nghiệp… Thì liệu có thể xây dựng được một mô hình chính trị mới, dựa trên nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba nhánh, đặc trưng cho Hoa Hạ không?

Phí Tiềm không biết liệu có thể đạt được mục tiêu này hay không, nhưng ông cảm thấy nên thử một lần.

Nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba nhánh không phải là khái niệm độc quyền của phương Tây. Ngay từ thời cổ đại của Hoa Hạ, đã tồn tại khái niệm này, nhưng nó cũng rất khác với mô hình phân chia quyền lực hiện đại của phương Tây.

Châu triều đã có hệ thống “tam giám”, thậm chí còn cố gắng sử dụng quyền lực tế lễ để kiểm soát quyền lực hành pháp, thông qua sự giám sát của các sử quan để tạo ra cơ chế kiểm soát kép, vừa dựa vào thành tích hiện tại vừa dựa vào đánh giá lịch sử. Tuy nhiên, cuối cùng thì hệ thống này vẫn bị hấp thụ bởi hệ thống lễ nghi và âm nhạc do Chu Công thiết lập.

Thời Đường cũng hình thành một cấu trúc quyền lực tam giác giữa hoàng đế, các cơ quan nội địa và ngoại địa, cùng với hệ thống thanh tra. Tuy nhiên, rõ ràng là cấu trúc này dẫn đến sự không ổn định khi quyền lực hoàng đế quá mạnh.

Từ thời Đường trở đi, các tầng lớp quản lý ở Trung Quốc đã nhận thức được những hậu quả tiêu cực của việc quyền lực hoàng đế quá mạnh; ngay cả chính hoàng đế cũng hiểu rõ điều này. Vì vậy, những vị hoàng đế thông minh thường có ý thức kiềm chế cảm xúc cá nhân và cố gắng giải quyết các vấn đề quốc gia một cách hợp lý, từ nhiều góc độ khác nhau.

Ví dụ, thời Đường đã xuất hiện các chức vụ như “ngũ hoa phán sự”; thời Song có Viện trung thư môn hạ thùy mật viện; thời Minh có Nội các lục bộ cửu khanh…

Tuy nhiên, mô hình phân chia quyền lực ở Hoa Hạ, hay những yếu tố tương tự nhưng khác biệt so với phương Tây, vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt.

Đầu tiên, nguồn gốc của quyền lực ở Hoa Hạ đã thay đổi từ “thiên mệnh huyền bí” thời cổ đại, sang “dòng dõi tổ tiên” thời Châu triều, và sau đó là “quyền thừa kế của hoàng đế”. Có thể thấy rằng có một chuỗi truyền thừa rất rõ ràng. Trong khi đó, ở phương Tây, quyền lực thường được lựa chọn thông qua việc thảo luận và bỏ phiếu của các bộ lạc nguyên th

Dù là thẩm quyền theo chiều dọc của Hoa Hạ hay các hiệp ước theo chiều ngang của phương Tây, tất cả đều có thể được tổng kết thành một điểm chung: chế độ độc tài hoặc sự độc quyền luôn sẽ gây ra vấn đề. Còn việc theo đuổi sự độc quyền, hay nói cách khác là sự thống nhất lớn, lại là điều mà mọi công ty, tổ chức, quốc gia đều không thể tránh khỏi.

Phải Tiên cho rằng, nếu người ta lật đổ hoàng đế để tự mình lên ngôi, thì chắc chắn họ đang tự đặt mình vào hệ thống luân hồi cũ kỹ đó; những “anh hùng giết rồng” cuối cùng cũng sẽ trở thành những con rồng ác, và sau đó chỉ chờ đợi người hùng giết rồng tiếp theo xuất hiện.

Có thể là ba năm, năm trăm năm… hoặc thậm chí là thời gian ngắn hơn nữa.

Vì vậy, Phải Tiên đã bắt đầu suy nghĩ xem, nếu trong các vương triều cổ đại của Hoa Hạ, Nho giáo bị suy yếu trong khi Pháp gia và Mặc gia được du nhập, nếu Nho giáo chịu trách nhiệm về việc cai trị bằng đạo đức và giáo dục, Pháp gia đặt ra các quy tắc lễ nghi và luật pháp, còn Mặc gia tập trung vào việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp, thì hệ thống này sẽ phát triển như thế nào, và liệu nó có mang lại ý nghĩa mới gì cho sự phát triển của Hoa Hạ cổ đại hay không?

Một thời gian, Phải Tiên từng nghĩ đến việc hạn chế quyền lực của hoàng đế, nhưng sau đó, trong quá trình xây dựng và thảo luận tại Chính Long Tự, ông nhận ra rằng thực tế trong Hoa Hạ, vẫn còn một “hoàng đế ẩn danh”, đó chính là Nho giáo.

Vì vậy, Phải Tiên bắt đầu suy ngẫm xem, nếu trong lịch sử, Nho giáo không trở thành tư tưởng chủ đạo mà kết hợp với các trường phái khác, thì sự phát triển của Hoa Hạ sẽ khác như thế nào.

Với tiền đề này, điều mà Phải Tiên cần không chỉ là một câu trả lời đơn giản, mà là một phân tích hệ thống, bao gồm các giai đoạn cụ thể của sự biến đổi hệ thống, sự phân công công việc và sự hợp tác giữa các trường phái, những xung đột và sự hòa nhập có thể xảy ra, cũng như tác động của chúng đối với kinh tế, khoa học kỹ thuật và cấu trúc xã hội của Hoa Hạ sau này.

Vì vậy, Phải Tiên đã tổng hợp lại những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo, Pháp gia và Mặc gia trong lịch sử, cũng như những ảnh hưởng mà chúng đã tạo ra trong thực tế.

Mặc gia gần như đã bị Pháp gia, Nho giáo và các tầng lớp cai trị liên kết lại để loại bỏ.

Bởi vì về bản chất, tư tưởng của Mặc gia thực sự quá tiên tiến so với thời đại đó…

Ngay cả trong các thời đại sau này, người dân bình thường cũng không thể nói đến tự do và bình đẳng; khi cần họ phải lao động

Sau khi trường phái Mạch gia bị đánh bại hoàn toàn và trường phái Pháp gia cũng bị loại bỏ khỏi vòng đua quyền lực, thì chắc chắn trường phái Nho gia là người cười cuối cùng.

Trường phái Nho gia đã nhặt lên những gói hàng của các trường phái Mạch gia và Pháp gia còn sót lại trên “con thuyền” quyền lực ấy, sau đó vứt bỏ vỏ gói hàng và giấu những thứ thuộc về hai trường phái kia vào trong tay áo mình. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để hình thành sự phân chia này cũng đã được đáp ứng; dù sao thì cũng có một số yếu tố của các trường phái khác đã được trường phái Nho gia tiếp nhận.

Do đó, vấn đề mà Phi Tiềm cần suy nghĩ chính là: Ba trường phái này sẽ chiếm vai trò gì trong cấu trúc quyền lực? Làm thế nào để tránh xung đột giữa chúng?

Chẳng hạn, trường phái Pháp gia coi trọng luật pháp và quyền lực tập trung, trường phái Mạch gia nhấn mạnh đến sự bình đẳng và tính thực dụng, còn trường phái Nho gia lại chú trọng đến việc giáo dục đạo đức con người. Khi ba trường phái này có những quan điểm mâu thuẫn với nhau trong cách thức cai trị, làm thế nào để hòa giải chúng?

Làm thế nào để dung hợp những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc của trường phái Pháp gia với chính sách nhân từ và đức trị của trường phái Nho gia?

Quan điểm coi trọng nông nghiệp và thủ công của trường phái Mạch gia có thể thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật và ngành thủ công, nhưng trong Trung Quốc cổ đại, chính sách ưu tiên nông nghiệp so với thương nghiệp liệu có làm thay đổi cơ bản của nền nông nghiệp quốc gia hay không?

Và còn rất nhiều vấn đề khác nữa…

Ngoài ra, Phi Tiềm cũng cần xem xét liệu trong quá trình phát triển của hệ thống này, liệu có xuất hiện những thay đổi mới nào không.

Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu, mọi người đều hòa thuận với nhau, ít xảy ra xung đột về quyền lực, và sự phân công công việc cũng khá rõ ràng. Nhưng đến giai đoạn giữa và cuối, sẽ xuất hiện những khu vực không ai quản lý, hoặc những lợi ích lớn đều trở thành mục tiêu tranh giành, và những cuộc đấu tranh quyền lực này có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống.

Khi ba trường phái này hợp tác với nhau, chúng sẽ không gặp phải trở ngại nào, nhưng khi chúng đối đầu với nhau bên trong, giống như những người tập võ trong sân tập, chỉ có những người cùng ngành mới biết nên tấn công vào điểm yếu nào.

Việc sự tập trung đất đai ngày càng tăng chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy tàn của Vương triều, vì vậy Phi Tiềm cũng cần thiết kế lại hệ thống đất đai.

Cần phải hạn chế sự tập trung đất đai và thúc đẩy sự phân bổ công bằng.

Chỉ đơn giản thu hồ

Vào cùng một thời điểm, việc phân quyền giữa ba gia tộc này sẽ đảm bảo sự cân bằng quyền lực và ngăn chặn được tình trạng một bên chiếm ưu thế. Tuy nhiên, điều này lại đòi hỏi phải có một cơ quan cao cấp hơn, một nhà lãnh đạo tối cao như hoàng đế hay thủ tướng, để thực hiện công việc cân bằng hoặc ra quyết định cuối cùng.

Phí Tiềm cho rằng, thủ tướng có lẽ sẽ là lựa chọn tốt hơn so với hoàng đế.

Để ba gia tộc đều có cơ hội đảm nhận chức vụ thủ tướng, cần phải cân bằng các cơ quan bầu cử và tuyển chọn một cách công bằng; ví dụ, có thể cải cách hệ thống khoa cử để số người thuộc các trường phái khác nhau tham gia vào chính quyền được đảm bảo ở mức tương đương nhau.

Điều này đồng nghĩa với việc số lượng quan chức sẽ tăng lên đáng kể so với trước khi phân chia quyền lực. Vì vậy, về mặt kinh tế, cần phải đảm bảo nguồn kinh phí đủ để duy trì hệ thống quản lý quan liêu của đế quốc; điều này đòi hỏi phải phát triển công nghiệp và thương mại, giảm bớt gánh nặng cho nông nghiệp và thúc đẩy sự đa dạng hóa kinh tế. Các công nghệ của trường phái Mạch và các quy định pháp luật của trường phái Pháp có thể thúc đẩy sự phát triển của ngành thủ công, đảm bảo sự ổn định trong hoạt động thương mại và từ đó giảm bớt sự phụ thuộc vào đất đai.

Về mặt hệ thống tài chính, cần tránh áp dụng chủ yếu thuế nông nghiệp theo truyền thống; thay vào đó, nên áp dụng các hình thức thuế tiền tệ để xây dựng một hệ thống tài chính ổn định, ngăn chặn tình trạng khủng hoảng tài chính. Các phương pháp phân tích định lượng của trường phái Mạch có thể hỗ trợ công tác quản lý ngân sách; trong khi đó, đạo đức của trường phái Nho giáo và sự giám sát của pháp luật của trường phái Pháp có thể ngăn chặn tình trạng tham nhũng.

Về mặt quân sự, cần duy trì lực lượng phòng thủ để ngăn chặn tình trạng các lãnh chúa quân sự chiếm đóng đất đai; kết hợp giữa công nghệ phòng thủ thành của trường phái Mạch và hệ thống công lao quân sự của trường phái Pháp, đồng thời sử dụng giáo dục của trường phái Nho giáo để giảm bớt các cuộc nổi loạn nội bộ và ngăn chặn sự xâm nhập văn hóa từ bên ngoài.

Về mặt văn hóa, cần duy trì giáo dục theo tư tưởng Nho giáo, nhưng cũng cần kết hợp các ý tưởng của trường phái Mạch và Pháp để thúc đẩy sự kết hợp giữa thực dụng và đạo đức, ngăn chặn sự cứng nhắc trong tư duy.

Để xây dựng một hệ thống chính trị bền vững trong các vương triều cổ đại của Hoa Hạ, cần phải phá vỡ cơ chế “đất đai =

    『Thủ Sơn Học Cung bổ nhiệm thêm các vị tiến sĩ chuyên về lý luận vật chất, luật pháp, và kinh điển, với cấp bậc ngang nhau với các vị tiến sĩ chuyên về kinh điển.』

  『Ban hành lệnh này.』

  『Tại Tây Kinh, bộ máy quản lý của Thượng Thư Đài được tổ chức thành ba ban công tác: ban công tác giáo dục, ban công tác pháp luật, và ban công tác nông nghiệp. Các thành viên trong từng ban sẽ luân phiên đảm trách công việc, mỗi ba năm thay đổi một lần; chỉ những người có thành tích xuất sắc và đã tham gia luân phiên ở cả ba ban mới có thể được thăng chức lên vị trí Thượng Thư.』

  『Ban hành lệnh này.』

  『Các Nông sĩ học giả sẽ kiểm tra danh sách hộ khẩu các khu vực canh tác, biên soạn “Sổ Điền mù” để xác định số lượng hộ gia đình, điều chỉnh số người trong mỗi hộ sao cho cân đối, đảm bảo sự công bằng trong việc phân bổ đất đai trên khắp cả nước.』

  『Ban hành lệnh này.』

  『Chính Long Tự sẽ tổ chức kỳ thi gồm ba môn: kinh điển, luật pháp, và toán học, để tuyển chọn những người có năng khiếu.』

  Fey Qian liệt kê từng lệnh một, sau đó Bàng Tống ghi chép chúng lại thành văn bản. Một số lệnh này Bàng Tống đã quen thuộc, nhưng cũng có những lệnh hoàn toàn mới mẻ đối với ông. Dù là quen thuộc hay mới mẻ, tất cả những lệnh này đều mang lại cho Bàng Tống cảm giác về sự sống mới mẻ, về sự phát triển tiến bộ. Giống như việc chứng kiến sự ra đời của một sinh mạng mới; dù biết rằng đứa trẻ ấy có đôi tay nhỏ, đôi chân nhỏ, chiếc mũi nhỏ, đôi mắt nhỏ, và trên người vẫn còn vương vãi bụi bặm và vết bẩn, nhưng vẫn có thể cảm nhận được sự kế thừa của dòng máu, sự truyền thừa của nền văn minh.

  『Ngoài ra,』 Fey Qian nói từ từ, «thông điệp được truyền đi bằng chim bồ câu đến khắp nơi ở Sơn Đông… Đặc biệt cần nói rằng, ngoài những chính sách mới này, chúng ta còn sẽ thành lập Hội đồng Các bậc trưởng lão của Đại Hán…』

  『Hội đồng ba bậc trưởng lão địa phương ư?』 Bàng Tống hỏi.

  Fey Qian lắc đầu: «Giống nhưng không hẳn vậy. Hội đồng các bậc trưởng lão… giống như những nơi các học giả lớn tranh luận về kinh điển tại Chính Long Tự…»

  Khi ba phe tồn tại song song, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những tranh chấp, thậm chí là những cuộc tấn công vô ích, có thể liên quan đến các quy định, ví dụ cụ thể, cá nhân, đạo đức, v.v. Và hầu hết những cuộc tấn công này đều là những vấn đề nhỏ nhặt nhưng tốn nhiều thời gian. Có th

Bất kỳ hệ thống nào cũng không thể khiến mọi người im lặng; điều này vẫn được chứng minh qua những cuộc bạo loạn âm thầm diễn ra dưới chế độ khủng bố trắng ở các thời đại sau này. Điều đó cho thấy rằng những biện pháp quản lý cứng rắn, hình phạt nặng nề, thậm chí là việc giết chóc cũng không thể ngăn chặn hoàn toàn tiếng nói của người dân. Vậy tại sao lại cố gắng ngăn cấm họ, thay vào đó không phải nên tìm cách điều tiết và hướng dẫn họ sao?

Hội đồng Các bậc trưởng lão chính là nơi được thiết lập để thảo luận về chính sách.

Mặc dù được gọi là Hội đồng Các bậc trưởng lão, nhưng thực tế không chỉ có các bậc trưởng lão mới được phép tham gia, mà còn có các gia tộc quý tộc và sĩ phu địa phương nữa.

Trong quá trình tranh luận và thảo luận về chính sách, đôi khi mọi người đều đồng ý với nhau, nhưng cũng có những lúc những ý kiến khác biệt gây ra sự căng thẳng. Việc cho phép các gia tộc quý tộc và sĩ phu địa phương tham gia vào quá trình quyết định chính sách không chỉ giúp họ có quyền tham gia vào công việc chính trị, mà còn ngăn chặn họ liên kết với nhau để gây hại cho địa phương.

“Hội đồng Các bậc trưởng lão mỗi năm có thể đưa ra một đề xuất chính sách. Những đề xuất này được soạn thảo bởi Hội đồng và sẽ được trình lên nếu có hai phần ba số thành viên đồng ý. Mỗi đề xuất đều phải trải qua ba vòng xem xét: về mặt đạo đức (do các học giả Nho giáo thực hiện), về mặt pháp luật (do các chuyên gia pháp luật thẩm định), và về mặt hiệu quả thực tế (do các chuyên gia khác đánh giá). Sau khi được xác nhận là khả thi, đề xuất đó sẽ được gửi đến Thủ tướng hoặc Quan đốc Thượng thư để xem xét thêm. Sau khi xem xét kỹ lưỡng về chi phí, lợi ích và rủi ro, đề xuất đó có thể được thông qua hoặc bị từ chối.”

Phí Tiềm cười nói: “Điểm quan trọng nhất là Hội đồng Các bậc trưởng lão của Đại Hán được đặt tại kinh đô.”

Lúc đó, Bàng Tống không thể hiểu ngay ý của Phí Tiềm.

Phí Tiềm vẫn cười và nói tiếp: “Việc sinh sống tại kinh đô thực sự không hề dễ dàng chút nào!”

Bàng Tống bỗng nhiên hiểu ra và bật cười: “Chủ công, kế hoạch này thật tuyệt vời!”

Các gia tộc quý tộc và sĩ phu địa phương luôn có mong muốn giành quyền lực; điều này đúng trong mọi thời đại và ở mọi nơi trên thế giới. Nếu cắt đứt con đường thăng tiến của họ, họ sẽ tìm cách khác để đạt được mục đích đó.

Vào thời kỳ đầu của Đại Hán, Lưu Bang đã sử dụng những biện pháp thô bạo để thu hút sự ủng hộ của các gia tộc quý tộc địa ph

Một khi mô hình cân bằng ba lực lượng gồm “Đại thủ tướng + Thượng thư đài + Các kinh điển và sáu bộ luật + Hội đồng các bậc trưởng lão” do Phí Tiềm thiết lập được hình thành, thì ảnh hưởng mang tính cách mạng nhất của hệ thống này chính là việc nó giúp nuôi dưỡng tinh thần “hợp đồng chính trị”, điều mà lại chính là thứ thiếu vắng nhất trong hệ thống phong kiến cổ đại của Hoa Hạ.

Chính trị cần có “hợp đồng”, chứ không phải là những hành động như “rót rượu để từ bỏ quyền lực” hay “dùng hai quả đào để giết ba người tài giỏi”.

Làm tốt thì không thể chỉ dừng lại ở việc “khi con thỏ ranh ma chết đi, con chó săn cũng bị giết”; làm không tốt thì cũng không thể đơn giản là “về hưu khi ốm yếu” là xong việc.

Kể từ khi Nho giáo đưa ra khái niệm “đứa con được trời phú”, Hoa Hạ đã hình thành mô hình “hợp đồng một chiều”: hoàng đế nắm quyền giải thích cao nhất, quyền phán quyết cuối cùng và quyền thực hiện các quyết định; ông ta vừa là vận động viên, vừa là trọng tài, đồng thời cũng là khán giả.

Nho giáo giống như những loại dây leo bám vào cây chính là hoàng đế; trong khi giúp hoàng đế loại bỏ những trở ngại xung quanh, chúng cũng dần siết chặt cổ những vị hoàng đế qua từng thế hệ, hút máu để phát triển, sau đó tiếp tục bám vào vương triều tiếp theo.

Vì vậy, cả hoàng đế lẫn Nho giáo đều phải sụp đổ; chỉ khi chúng “đã chết” thì mọi thứ mới có thể phát triển.

Trong số tất cả những thứ đó, điều quan trọng nhất chính là “hợp đồng chính trị”.

Thời Đường Hán không thiếu “hợp đồng”. Sự phát triển mạnh mẽ của các văn bản hợp đồng dân sự như “tiên lệnh quyển thư” thời Đường Hán tạo nên sự tương phản rõ rệt so với những hình thức không dựa trên hợp đồng trong lĩnh vực chính trị.

Phí Tiềm cố tình giữ Lữ Bố lại, thực chất là để nhấn mạnh tầm quan trọng của “hợp đồng chính trị”.

Chỉ khi những “người có công” không bị giết hại, những tài năng ở Hoa Hạ mới có thể phát huy hết khả năng của mình; nếu không, họ sẽ bị coi là “phá hủy chính công lao của mình”, và những hành động phản bội chính trị như của Lưu Bang sẽ bị đánh giá là những khuyết điểm đạo đức chứ không phải là vấn đề của hệ thống, dẫn đến việc mỗi vị “quyền thần” lên nắm quyền đều phải suy nghĩ xem bản thân và gia tộc mình sẽ sống sót như thế nào…

Hành động tự ô uế của loài rùa cũng chính là lời cảnh báo về căn bệnh này.

Trong số những người thuộc triều đại Đại Hán, những người như Vương Mang, Hồ Quang… đã làm trầm trọng thêm căn bệnh này; điều này khiến cho “hợ

Rõ ràng, cả hai phương pháp này đều không phải là giải pháp tốt. Vì vậy, Phi Tiên đã nghĩ ra một mô hình mới, một con đường mới. Khi “dự thảo chính sách – thực hiện – phản hồi” trở thành một hệ thống khép kín, tính hợp pháp trong việc cai trị của truyền thống Hoa Hạ sẽ dần dần chuyển từ “mệnh trời” sang “việc tuân thủ các cam kết”. Dù sao đi nữa, những người hoàng đế và triều đình chỉ là những tổ chức được hình thành từ quyền lực mà người dân trong nước giao phó, nhằm duy trì trật tự xã hội, tổ chức sản xuất, bảo đảm cuộc sống và chống lại kẻ thù bên ngoài. Điều này chính là “hợp đồng chính trị”, một thỏa thuận mang tính hai chiều, chứ không phải là công cụ để một hay một số người thể hiện sự bất tài hay thỏa mãn những ham muốn cá nhân. Một khi “hợp đồng chính trị” của Hoa Hạ được thiết lập, có lẽ dân tộc này sẽ tiến lên một đỉnh cao mới, rực rỡ hơn. Tất nhiên, do bị hạn chế bởi năng lực sản xuất và công nghệ nông nghiệp, hệ thống mới mà Phi Tiên đề xuất có thể sẽ biến đổi thành một hình thức dân chủ do giới quý tộc lãnh đạo, chứ không phải là hệ thống nghị viện hiện đại… Nhưng đó là chuyện sau này rồi…

1/1 0%