lore

Chương 2407: Đánh vào điểm yếu

18,542 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Có một câu nói như thế này, được Fai Tiềm nghe đi nghe lại rất nhiều trong các thời đại sau này:

“Khi xảy ra tuyết lở, không có một bông tuyết nào là vô tội.”

Nghe có vẻ rất hợp lý và thường được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, nhưng thực tế thì đây chỉ là một lời nói đầy tính chất kích động mà thôi.

Nếu hiểu theo nghĩa đen của câu này, thì một trận tuyết lở thảm khốc là do tất cả các bông tuyết cùng góp phần gây ra, vì vậy mỗi bông tuyết đều phải chịu trách nhiệm về hậu quả đó.

Nhưng thực tế, hầu hết những người nói ra câu này đều không biết nguồn gốc thực sự của nó là gì, thậm chí cũng không nhận ra rằng trong quá trình dịch câu này đã xuất hiện những sai lệch nghiêm trọng. Chính những sai lệch này mới là nguyên nhân khiến câu nói này bị “thêm vào” những ý kiến cá nhân không liên quan.

Có người nói rằng câu này là do Voltaire nói ra, nhưng thực tế không phải vậy.

Tác giả ban đầu của câu này là nhà thơ Ba Lan Stanisław.

Ý nghĩa đen của nguyên bản là: “Khi xảy ra tuyết lở, không có một bông tuyết nào cảm thấy mình vô tội.”

Không biết liệu có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai câu này không? Câu đầu tiên mang tính chất phán xét đạo đức từ góc độ cao, trong khi câu thứ hai chỉ đơn thuần là một mô tả về sự việc.

Liệu các bông tuyết thực sự phải chịu trách nhiệm về tuyết lở ư?

Và lại còn nói rằng “không có một bông tuyết nào là vô tội” nữa sao?!

Các bông tuyết rơi xuống một cách ngẫu nhiên; chúng không thể kiểm soát số phận của mình. Có những bông tuyết rơi xuống đồng ruộng, nuôi dưỡng cây trồng và trở thành nguồn nước cho sông suối; có những bông tuyết rơi xuống sườn núi, dần dần tích tụ thành tuyết lở và nuốt chửng mọi thứ.

Vậy mà lại bắt tất cả các bông tuyết phải chịu trách nhiệm về tuyết lở ư?

Những kẻ đứng sau lưng, khiến các bông tuyết rơi xuống một khu vực nào đó, những phương tiện truyền thông lợi dụng các bông tuyết để thu hút sự chú ý, những kẻ lan truyền tin đồn, kích động để tạo ra tuyết lở… Sau khi tuyết lở xảy ra, những kẻ này lại giơ tay lên, nói rằng mình cũng giống như những “bông tuyết” khác, phải chịu trách nhiệm.

Thực ra, ý muốn ẩn sau những lời này là: Liệu các “bông tuyết” thực sự muốn tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề hay không?

Hãy nhìn vào những tội lỗi của chính mình đi!

Giống như một số tôn giáo, cho rằng con người sinh ra đã mang theo tội lỗi, nghiệp chướng… Ý nghĩa cũng tương tự thôi. Nếu ai cũng có tội, thì cũng có nghĩa là ai cũng không có tội; ho

Như vậy thì mọi suy nghĩ về nguồn gốc sự việc, về những nguyên nhân dẫn đến “tuyết lở” ấy đều bị dập tắt, chỉ còn lại những lời buộc tội từ phía người có quyền lực, kèm theo vài tiếng thở dài không rõ ràng, sau đó trách nhiệm được chia đều cho tất cả những “hạt tuyết” ấy, và mọi người có thể tiếp tục đi tìm những “bữa tiệc tuyết lở” tiếp theo.

Điều này giống như sau những sự kiện lớn, luôn có người đứng ra gánh vác trách nhiệm – dù là người lao động tạm thời hay chỉ là những kẻ hèn mọn – để ngăn chặn việc tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của sự việc.

Vì vậy, việc coi câu “Không có hạt tuyết nào trong ‘tuyết lở’ là vô tội” như một lời nhắc nhở bản thân, như một biện pháp tự kiểm soát đạo đức thì thật sự rất tốt. Nhưng nếu chỉ sử dụng câu này để thu hút sự chú ý hoặc để trốn tránh trách nhiệm, và liên tục chỉ trích này nọ… thì điều đó thật sự không có ý nghĩa gì cả.

Giống như hiện tại.

Sự việc của Bèi Nguyên có thể được coi là một “sự kiện tuyết lở” vừa phải.

Nếu theo ý kiến của Ngô Đoan, thì những “hạt tuyết” ấy không có quá nhiều quyền lực, sự kiện “tuyết lở” này xảy ra một cách ngẫu nhiên và không gây ra nhiều thiệt hại, nên có thể bỏ qua được; mọi người vẫn có thể tiếp tục sống bình thường như trước. Còn đối với Tư Mã Dực, ông nhấn mạnh rằng “không có hạt tuyết nào trong ‘tuyết lở’ là vô tội”, và yêu cầu phải điều tra kỹ lưỡng, thậm chí muốn đem tất cả những “hạt tuyết” ấy ra để xem xét.

Dù lý do đằng sau những đề xuất của Ngô Đoan và Tư Mã Dực là gì đi nữa, nhìn từ bề mặt thì đúng là như vậy.

Nếu chỉ dựa vào lợi ích để hành động, thì rõ ràng điều đó sẽ hướng đến lợi ích cá nhân; còn nếu dựa vào đạo đức để hành động, cũng không có nghĩa là nó sẽ mang lại những kết quả tích cực về mặt đạo đức.

Trong cấu trúc chính trị và hệ thống xã hội hiện tại, việc kết hợp cả hai yếu tố này là điều không thể tránh khỏi.

Các tiêu chuẩn đạo đức không phải là điều mà Ngô Đoan và Tư Mã Dực có thể quyết định được, và việc họ đưa ra những đề xuất cũng không phải là để thực hiện những tiêu chuẩn đó. Thực ra, khi triệu tập họ đến, Phùng Tiềm muốn họ tìm ra con đường dẫn đến “tuyết lở” này, hoặc tìm ra những phương pháp để xử lý những sự kiện tương tự.

Tuy nhiên, bây giờ Phùng Tiềm nhận thấy rằng hai người này dường như có sự khác biệt so với những gì ông mong đợi.

Phùng Tiềm nhì

“Làm sao có thể so sánh rằng cái này nặng như vậy, còn cái kia nhẹ như thế được chứ?”

“Những lời của Thái Sử Công này, không biết Trung Đạt nghĩ thế nào?”

Tư Mã Dực hít một hơi thật sâu, sau đó nói với vẻ bình thường: “Những gì Chủ công nói quả thật rất đúng. Chỉ khi trời lạnh mới biết được cây thông, cây bách vẫn xanh tươi; chỉ khi gặp hoạn nạn mới biết được lòng người ta tốt lành đến mức nào.”

Sau khi chỉ ra vấn đề của Tư Mã Dực, Phi Tiên tiếp tục nói: “Con người sống trong thế giới này, phải tuân theo đạo lý của trời đất. Đạo trời không hề ban ra lệnh nào, nhưng tại sao mọi vật lại có thể sinh sôi phát triển? Bởi vì chúng được bốn mùa điều khiển, được năm nguyên tố hỗ trợ; nếu theo đúng quy luật, chúng sẽ sống sót, còn nếu đi ngược lại, chúng sẽ diệt vong.”

“Đại Hán đã thiết lập ba quan lớn và chín quan nhỏ, các quận huyện được quản lý bởi các cơ quan địa phương, các bậc trưởng lão trong làng, các quan chức từ lớn đến nhỏ, tất cả đều làm như vậy để đảm bảo rằng mọi người có thể sống một cách thuận lợi. Đó chính là ‘đạo trời’ của việc quản lý con người.”

“Các quan chức phải làm gì? Có khi dân chúng còn chưa yên ổn, họ phải suy nghĩ cách làm cho họ được an toàn; có khi các dân tộc lân cận vẫn chưa phục tùng, họ phải suy nghĩ cách thu hút họ về phe mình; có khi chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, họ phải suy nghĩ cách chấm dứt nó; có khi đất đai bị bỏ hoang, họ phải suy nghĩ cách khai phục nó; có khi những người tài giỏi vẫn còn ẩn mình ngoài đời, họ phải suy nghĩ cách đưa họ vào triều đình…”

“Nếu sáu loại khí trong cơ thể con người mất cân bằng, những tai họa sẽ ập đến, họ phải suy nghĩ cách tránh né và xua tan chúng; nếu năm hình phạt chưa được áp dụng mà những hành vi gian dối ngày càng gia tăng, họ phải suy nghĩ cách sửa chữa và điều chỉnh chúng. Họ phải quan tâm đến những nỗi lo của người dân, chịu đựng những khó khăn mà họ phải trải qua, đưa những ý kiến hay từ ngoài đời vào triều đình… Nếu làm được như vậy, dù được hưởng một ngàn thạch lương thực hay mười ngàn đồng tiền thù lao, cũng xứng đáng.”

Những lời nói của Phi Tiên quả thật hoàn toàn đúng đắn; bất kỳ ai nghe thấy cũng không thể tìm ra điểm sai nào. Ngô Đoan và Tư Mã Dực cũng đều gật đầu liên tục, cho rằng những lời của Chủ công thật sự sâu sắc và quý báu…

Phi Tiên không tiếp tục nói, mà tiếp tục phân tích: “Tuy nhiên, cũng có những quan chức giữ những chức vụ quan trọng;

Giống như việc ban đầu, Phí Tiềm đã thực hiện “Luật Chống Tham Nhũng” tại khu vực Quan Trung và ba vùng phụ cận; luật này chỉ tập trung vào hành vi tham nhũng, quy định ba loại tội danh liên quan đến hành vi tham ô và án phạt cũng khá nặng ngặt. Tuy nhiên, điều này không thể ngăn chặn được mong muốn tiếp tục tham nhũng của các quan lại. Sau đó, Phí Tiềm đã bổ sung thêm mục “Lãng quên bổn phận” vào “Luật Chống Tham Nhũng”, chi tiết hóa các hành vi cụ thể để bao phủ càng nhiều khía cạnh càng tốt, và từ đó hình thành nên “Luật Chống Tham Nhũng và Lãng Quên Bổn Phận” hiện nay…

  Nhưng rõ ràng, “Luật Chống Tham Nhũng và Lãng Quên Bổn Phận” cũng đã không còn phù hợp với những thay đổi mới nữa. Trong luật này, “tham” có nghĩa là tham ô công quỹ, còn “lãng quên bổn phận” có nghĩa là làm trái bổn phận công vụ. Nhưng đối với người như Bèi Nguyên, nếu gọi anh ta tham ô công quỹ thì không đúng, bởi vì anh ta chỉ nhận rất nhiều tiền cá nhân mà thôi; trong khi đó, anh ta cũng không có quyền lợi hay số tiền nào để tham ô từ quỹ công. Nếu gọi anh ta làm trái bổn phận, thì cũng không đúng, bởi vì anh ta chỉ hứa hẹn mà không thực hiện, dẫn đến việc nhận rất nhiều tiền nhưng không làm được gì cả…

  Vì vậy, việc áp dụng “Luật Chống Tham Nhũng và Lãng Quên Bổn Phận” vào trường hợp của Bèi Nguyên sẽ không tìm ra bất kỳ tội danh nào phù hợp. Mỗi thời đại đều có những hoàn cảnh khác nhau. Tất nhiên, trong các thời đại sau này, hành vi như vậy sẽ được coi là hình thức lừa đảo kinh tế có quy mô lớn, nhưng vấn đề là, vào thời Đại Hán, không hề có tội danh này… Thậm chí có thể nói rằng, loại hình lừa đảo này trong nhận thức của người dân thời Đại Hán không được coi là một tội ác nghiêm trọng; thậm chí có lẽ còn không được xem là tội ác nữa. Những hành vi lừa đảo giữa các gia tộc quý tộc thời Xuân Thu Chiến Quốc thậm chí còn được coi là những ví dụ điển hình về sự khôn ngoan và mưu mẹo…

  Chẳng hạn như câu chuyện “Hoàn Bích Quy Triệu”. Nếu ai bị lừa đảo, thì việc tìm cơ quan chức năng để giải quyết sẽ không có ích gì, bởi vì mọi người sẽ cho rằng người bị lừa đảo là người thiếu trí tuệ, yếu đuối và không biết suy nghĩ xa trông rộng. Vì vậy, nếu Phí Tiềm muốn đứng ra đòi lại những khoản tiền mà các gia tộc quý tộc bị Bèi Nguyên lừa đảo đã mất, rồi chỉ trích tính cách của Bèi Nguyên, thì điều đó hoàn toàn không thể được chấp nhận!

  Trong nhận thức xã hội thờ

Vì vậy, Phi Tiềm không thể đồng ý với cách làm của Ngô Đoan – tức là biến những vấn đề lớn thành nhỏ, hay cũng không thể áp dụng phương thức của Tư Mã Dực – tức là làm cho những chuyện nhỏ trở nên lớn lao và gây rối loạn. Thay vào đó, ông đã tận dụng cơ hội này để đưa ra một tiêu chuẩn mới, một vấn đề mới…

Thế nào là một “lệ sự”?

Và một “lệ sự” nên phải làm như thế nào?

Giống như câu nói được đề cập ngay từ đầu: liệu có nên đứng trên cao chỉ trích tất cả những điều xảy ra, hay nên đứng giữa chúng để suy nghĩ xem tại sao lại xuất hiện những vấn đề như vậy?

“Vì cả hai ngài đều đồng ý với quan điểm này…” Phi Tiềm mỉm cười, “Ngô Viện Chính chính là người phụ trách soạn thảo các luật lệ liên quan đến việc đánh giá công việc của các ‘lệ sự’, còn Tư Mã Kinh thì chịu trách nhiệm kiểm tra những người trong những năm gần đây đã nhậm chức nhưng sau đó bỗng nhiên từ chức mà không có lý do… Nhờ vào cơ hội này, chúng ta có thể làm sạch bầu không khí trong guồng máy hành chính…”

Phi Tiềm đã chọn một con đường khác: bắt đầu từ trách nhiệm của một “lệ sự”, không bàn về việc Bèi Nguyên có gian dối hay không, cũng không đề cập đến đạo đức cá nhân của ông ấy, mà chỉ nói rằng khi làm một “lệ sự”, người đó phải sống theo đúng tiêu chuẩn của một “lệ sự”, phải làm những gì đúng đắn và tránh những gì sai trái. Sau đó, yêu cầu Ngô Đoan dựa trên những kết luận đã đạt được để soạn thảo các luật lệ cần thiết, và để Tư Mã Dực điều tra những quan viên trong thời gian gần đây đã từ chức hoặc bỏ trốn, bao gồm cả Bèi Nguyên. Biện pháp này chắc chắn là một đòn tấn công có tính chiến lược cao hơn nhiều…

……(o□`o)……

Trong khi Phi Tiềm đang tìm gặp Ngô Đoan và Tư Mã Dực để thảo luận về các vấn đề liên quan, thì ở xa xôi, trong sa mạc, Triệu Vân cũng gặp phải một số tình huống mới.

Lượng vải màu đỏ không còn đủ nữa.

Màu đỏ và màu đen chính là những màu cơ bản đại diện cho người Hán.

Đó là những màu cơ bản, chứ không phải là quần lót màu đỏ…

Còn những màu vàng hay các màu khác thì ít nhất ở giai đoạn này, chúng không thể đại diện cho người Hán.

Trong thời kỳ Tần-Hán, nhờ sự phát triển của năng lực sản xuất, nghệ thuật nhuộm vải đã có những bước tiến vượt bậc. Sự tiến bộ này là nền tảng giúp chất lượng quần áo được cải thiện. Người dân Hán ngày càng coi trọng trang phục, và trang phục của họ cũng trở nên ngày càng lộng lẫy hơn. Thậm chí, các kỹ thuật nhuộm với nhiều màu sắc khác nhau cũng đã xuất hiện.

Tuy nhiên, trong quân đội

Trong số ba khu vực phụ thuộc vào Quan Trung, cũng có một số nơi trồng cây dùng để nhuộm vải, nhưng xét trên phạm vi toàn bộ đất Đại Hán, nơi trồng loại cỏ dùng để nhuộm màu xanh lam nhiều nhất chắc hẳn là quê hương của Tào Tháo – Trần Lưu.

Màu vàng thường được nhuộm từ hoa gardenia. Màu vàng tạo ra từ hoa gardenia có ánh sáng đỏ nhạt, và đây được coi là loại thuốc nhuộm cao cấp; tuy nhiên, cũng có những loại màu vàng thông thường khác. Trong “Hán Quan Nghi” có ghi chép rằng: “Vườn nhuộm sản xuất ra loại cây gọi là ‘È Xī’, dùng để nhuộm quần áo cho hoàng gia”. “È” chính là hoa gardenia, điều này chứng tỏ rằng loại vải màu vàng dành riêng cho hoàng gia thời bấy giờ được nhuộm bằng hoa gardenia.

Đối với màu trắng, thường không cần phải nhuộm riêng biệt; nếu muốn thay đổi màu sắc, người ta thường sử dụng các chất khoáng để tô màu, nhưng quy trình này khá phức tạp. Vì vậy, ở Đại Hán, người ta thường chỉ cần ngâm và luộc vải để làm trắng nó; ví dụ, để làm trắng vải lanh, người ta sẽ dùng tro thực vật và vôi để luộc… Có thể chỉ cần một lần, hoặc cần phải thực hiện vài lần.

Đối với màu đen, có rất nhiều nguyên liệu có thể được sử dụng để nhuộm màu đen, như hạt sồi, lá đỗ quyên, vỏ cây gall, lá quả đào, lá bạch quả, vỏ hạt dẻ, vỏ hạt sen, lá cây chuột đuôi, lá cây bạch đàn… Mặc dù một số nguyên liệu này không tạo ra màu đen đậm như trong thời hiện đại, nhưng về cơ bản chúng vẫn đáp ứng được nhu cầu sử dụng.

Điều gây khó khăn, hoặc thiếu hụt nguyên liệu, chính là màu đỏ…

Gì cơ?

Máu à?

Không thể dùng máu để nhuộm vải đâu. Những ai nghĩ rằng máu có thể dùng để nhuộm vải, thì hãy thử tự mình cắt một vết và xem sao.

Màu đỏ thời Đại Hán cũng được nhuộm từ một loại cỏ gọi là cây cỏ đỏ.

Vì Triệu Vân còn cách Âm Sơn khá xa, và thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu hụt vải có màu sắc cụ thể, nên không thể cứ liên tục gửi yêu cầu và sau đó mới nhận được hàng màu đen hay màu vàng… Phương pháp tiện lợi nhất chính là gửi trực tiếp những tấm vải thô chưa qua nhuộm đến, sau đó Triệu Vân có thể tự mình nhuộm chúng theo nhu cầu của mình tại doanh trại lớn ở Changshan.

Còn lý do tại sao lại thiếu hụt vải màu đỏ vào thời điểm đó, là bởi vì Tào Tháo, Trương Hợp và những người khác đã mở rộng lãnh thổ quá nhanh một cách không kiểm soát được.

Giống như khi một con chó chiếm giữ một khu đất…

Ừm, hoặc giống như khi một con hổ chiếm giữ một khu đất…

Dù sao thì ý tôi cũng là như vậ

Còn có một vấn đề càng phức tạp hơn, đó chính là vấn đề dân số.

Dân số của người Hồ.

Và cả đàn gia súc nữa.

Lý do khiến những người như Triệu Vân và Trương Hợp có thể tiến triển thuận lợi như vậy, chính là bởi vì những người Hồ này đã phải đối mặt với những thảm họa nghiêm trọng. Trước những thảm họa ấy, họ chỉ còn hai lựa chọn: hoặc là đi cướp bóc, hoặc là chờ đợi cái chết.

Chẳng cần nói đến việc chờ đợi cái chết, còn việc đi cướp bóc ư? Trong sa mạc rộng lớn này, không có gì đáng để cướp; còn những nơi có của cải, thì lại không thể chiếm được.

Và rồi, Triệu Vân đã đưa ra một lựa chọn thứ ba…

Hầu hết những người Hồ này đều sinh sống ở phía bắc sa mạc; có thể nói, nếu không có những thảm họa này, Triệu Vân sẽ không bao giờ gặp được họ.

Người Hồ cũng giống như người Hán vậy – cũng có đôi mắt, cái miệng, và đều cần phải ăn uống. Khi có những biến động trên thảo nguyên sa mạc, bầy gia súc sẽ lộ ra… Điểm yếu tự nhiên của các dân tộc du mục sẽ hiện rõ trước những thảm họa ở đây.

Nếu có thể tận dụng những điều kiện ăn uống để giải quyết những vấn đề trong sa mạc, đó chính là một công lao lớn; nhưng ngược lại, nếu nuôi dưỡng những kẻ gây hại, hay cho những con sói lòng trắng ăn, thì đó chính là tội ác lớn nhất.

Giống như hai mặt của một đồng tiền Biao Qi...

Đồng tiền Biao Qi ấy đang nằm trong tay Tân Phi.

Những người Hồ từ phía bắc sa mạc này khác với người Xiên Bì và Hung Nô; một số người luôn đội mũ lông cừu, trong khi những người khác thì chịu rét đến chết cũng không đội mũ, để mái tóc dài đen kịt của họ bay phấp phới…

Đừng nghĩ rằng cuộc sống trên thảo nguyên sa mạc là đẹp đẽ và thoải mái; thực tế, nếu bạn tiến lại gần hơn, bạn sẽ ngửi thấy mùi hôi của yak và dê từ mái tóc, từ áo khoác da của họ, và cũng sẽ thấy những con rận và bọ chét bò lên xuống trên tóc và áo khoác của họ…

Giống như nhiều người trong thành phố ngày nay ao ước được sống cuộc sống nông thôn, nhưng khi thực sự đến nông thôn, họ lại chỉ là những người mơ mộng mà thôi.

Trong số những người Hồ này, đa số có đôi mắt đen và mái tóc đen; nhưng cũng có một số người có mũi cao, đôi mắt màu sắc khác biệt… Những người này thường đứng xa xôi, với vẻ mặt khiêm tốn và nhỏ nhen.

Ngôn ngữ là một vấn đề lớn; may mắn thay, họ có thể hiểu nhau, vì vậy Tân Phi đã chỉ đạo một số người để họ tự mình bầu ra đại diện để thảo luận.

Buổi trưa.

Ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống

Có vẻ như họ đã bị nắng chiếu đến mức cảm thấy nóng bức; những kẻ mặc áo giáp làm từ da dê này đã cởi bỏ một nửa lớp áo của mình, và từ đó, mùi thơm của gia súc trong khu vực trận đấu càng trở nên nồng nàn hơn.

Ở giữa nhóm người Hồ này, có ba người được họ bầu chọn ra để lãnh đạo: một ông già tóc đã pha sương, một người trung niên đeo chuỗi xương dê quanh cổ, và một người đàn ông tóc rối bù, mất một con mắt trái.

Trong cuộc chiến này, hoặc là đầu hàng, hoặc là chết. Trong số những người này, có rất nhiều người từng tiếp xúc với Triệu Vân và Trương Hợp đã chọn cách đầu hàng; tuy nhiên, việc đầu hàng không có nghĩa là họ sẽ không cần ăn uống gì cả. Còn có một số người khác thì nghe tin tức và tự nguyện đến đây để liên lạc với họ.

Việc giết chóc không thể giải quyết được vấn đề; nó chỉ có thể loại bỏ những người gây ra vấn đề mà thôi, còn bản chất của vấn đề vẫn còn nguyên vẹn ở đó.

Giống như khi người Hung Nô chiếm giữ toàn bộ sa mạc, nhưng sau một thời gian ngắn, đã không ai còn nhớ người Hung Nô là như thế nào nữa; sau đó là người Tiên Phi, và khi Tan Thạch Hoài của người Tiên Phi qua đời, họ cũng tan rã thành từng mảnh.

Vì vậy, nếu muốn thực sự giải quyết các vấn đề trong sa mạc, thì không thể chỉ dựa vào việc giết người. Giống như việc sa thải một người lao động tạm thời không thể giải quyết triệt để vấn đề được; nó chỉ giải quyết được biểu hiện bề ngoài của vấn đề mà thôi, chứ không thể loại bỏ nguyên nhân gốc rễ của nó.

“Đinh!”

Tân Phi tung chiếc tiền Biao Kí cao lên trời.

Chiếc tiền lượn vòng trong không trung, phản chiếu ánh nắng mặt trời, tỏa ra ánh sáng lấp lánh, thu hút sự chú ý của tất cả mọi người, rồi sau đó rơi xuống và lại nằm trở lại trong tay Tân Phi.

“Đây…”, Tân Phi đẩy chiếc tiền ra phía trước một chút, để mọi người đều có thể nhìn thấy rõ, “Đây chính là những ưu đãi lớn nhất mà tôi đại diện cho Tướng Biao Kí dành cho các bạn…”

1/1 0%