lore

Chương 1690: Khí văn

12,292 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thị trường trong thời đại Hán vốn dĩ rất đơn giản và thiếu chi tiết. Giống như ở Bình Dương, ban đầu không hề có chợ hoạt động suốt cả ngày; cũng giống như nhiều thành phố khác thời Hán, chỉ mở cửa hai giờ vào mỗi ngày. Sau này, thời gian mở cửa được kéo dài thành ba buổi: chợ sáng, chợ tối và chợ chính.

Các thương nhân lớn thường tham gia chợ sáng, tức là buổi sáng. Vì điều kiện giao thông lúc bấy giờ không thuận tiện như ngày nay, nên nhiều giao dịch lớn muốn được thực hiện sớm để tránh việc phải chờ đợi suốt đêm. Vì vậy, các thương nhân lớn thường dậy sớm để kinh doanh, hoàn toàn khác với hình ảnh trong các bộ phim truyền hình, nơi mọi người đều ngủ đến khi mặt trời lặn mới dậy.

Chợ tối thường do các tiểu thương xung quanh tham gia. Họ cần ra ngoài từ sáng sớm để thu mua nguyên liệu, sau đó bắt đầu bán hàng vào buổi tối. Hầu hết họ không có cửa hàng cố định, mà chỉ dựng quầy hàng trên đường hoặc mang hàng đi bán khắp nơi.

Chợ chính thì diễn ra vào giữa trưa. Các nông dân và thợ thủ công xung quanh sẽ đến thành phố từ sáng sớm, và vào khoảng trưa thì bán các loại rau củ, trái cây và sản phẩm thủ công do họ tự sản xuất. Sau đó, họ có thể về nhà trước khi mặt trời lặn, hoặc tiếp tục mua sắm các nhu yếu phẩm cần thiết tại chợ tối...

Nhìn chung, thị trường trong thời đại Hán đều hoạt động theo cách này, và Bình Dương cũng vậy.

Tuy nhiên, khi đường xá được cải thiện và số lượng thương nhân tăng lên, thời gian mở cửa chợ sáng đã không còn đủ. Thời gian mở cửa được kéo dài mãi, cuối cùng thậm chí kéo dài suốt đêm, với 24 giờ liên tục bán hàng. Vì vậy, nhiều thương nhân đã chuyển đến khu vực ngoại ô thành phố, tạo thành hai chợ lớn ở phía đông và phía tây. Do nhu cầu sinh hoạt của người dân tại hai chợ này, nhiều tiểu thương tham gia chợ tối cũng bắt đầu mở cửa suốt cả ngày, từ ban ngày đến đêm khuya.

Khi có nhu cầu, thương mại mới phát triển. Giống như trong thời kỳ kinh tế kế hoạch sau này, nhiều nhà hàng quốc doanh chỉ mở cửa hai ba giờ mỗi ngày; những lúc còn lại, dù có người muốn ăn uống, họ cũng không thể phục vụ được – lò không được đốt, rau không được rửa, cơm không được nấu… Khách hàng buộc phải chờ đợi hoặc phải đi đâu khác. Tình trạng này cũng từng xảy ra ở một số quốc gia Châu Âu được coi là tiên tiến; đến giờ hạn quy định mà vẫn không thể ăn được gì nóng hổi…

Chỉ khi có nhu cầu, có yêu cầu, có quy định và có luật lệ, thương mại mới có thể phát triển ổn định. Do đó, các quy định thương mại được áp dụng tại Bình Dương khá phức tạp và rườm rà, khiến nhiều thương nhân gặp khó khăn trong việc tuân thủ. H

Trong cửa hàng tạp hóa bán cuốn “Giải thích chữ Hán mới”, điều này rõ ràng đã vượt ra ngoài phạm vi kinh doanh ban đầu của các tiểu thương. Vì vậy, sau khi có cuộc kiểm tra quy mô lớn, rất nhiều tiểu thương đã bị bắt giữ. Họ không chỉ phải nộp một khoản tiền phạt lớn mà còn phải giao nộp những bản sao tay, những bản in lại của cuốn “Giải thích chữ Hán mới”… Những thứ đó sau đó được bán lại với giá khác nhau cho những người học trò cần những cuốn sách này.

Mã Câu cũng đã tranh được một bộ và cẩn thận mang nó về nơi ở tạm thời của mình, như thể đang ôm một báu vật quý giá vậy, rất vui mừng.

Trên đường đi, anh vẫn thấy một số người tuần tra dẫn những tiểu thương vi phạm quy định đến yamen để xử lý. Đồng thời, cũng có người đứng bên đường tuyên truyền các quy định pháp luật, thông báo cho người dân biết.

“Tân Lệnh Quân đã nói rằng…”

Vì những thông báo này chủ yếu là dành cho toàn thể người dân, nên ngôn từ rất dễ hiểu, nhưng nội dung thì không hề đơn giản. Bởi vì trong đó xuất hiện một thuật ngữ hoàn toàn chưa từng có vào thời Đại Hán: “Vi phạm bản quyền”!

Ai có thể ngờ rằng từ đầu, Tân Lệnh Quân đã đặt ra các quy định về phạm vi kinh doanh của các cửa hàng chính là để đợi đến khoảnh khắc này? Có lẽ ngay cả những người biết điều này cũng sẽ bị lừa đảo. Luật thương mại mới quy định rằng mọi cửa hàng đều có phạm vi kinh doanh cụ thể; sách vở chỉ được phép bán bởi các nhà xuất bản, còn những cá nhân hay cửa hàng khác nếu bán sách vở thì đều bị coi là vi phạm bản quyền và sẽ bị xử lý theo mức độ vi phạm, tùy thuộc vào số tiền kiếm được.

Những thuật ngữ mới mẻ như vậy khiến cho một số con cháu của các gia tộc quý tộc và những học sinh xuất thân từ gia đình nghèo khó tụ tập lại để thảo luận sôi nổi. Có những người gan dạ hơn thì còn thẳng thắn đặt câu hỏi. Tuy nhiên, những quan chức tiến hành tuyên truyền không hề hoảng loạn hay la mắng mà còn giải thích thêm rằng những trường hợp cá nhân sao chép sách vở hoặc tặng sách cho người khác, nếu không nhằm mục đích lợi ích riêng, thì không bị coi là vi phạm bản quyền.

“Làm thế nào mới được coi là ‘không nhằm mục đích lợi ích riêng’?” lại có người hỏi to. “Nếu một gia đình thuê người sao chép sách và trả tiền công cho họ, liệu những người sao chép đó có được coi là ‘lợi ích’ không? Họ cũng sẽ bị xử phạt chứ?”

Quan chức tiến hành tuyên truyền liếc nhìn vào các chi tiết trong quy định và cười đáp: “Yếu tố then chốt của tội danh này nằm ở chính cuốn sách! Người sao chép sách để lấy tiền công thì không phạm tội. Ngay c

Mã Câu và Bình Dương cùng nhau đi về phía nơi ở, trong lúc đó họ cũng bàn luận về vấn đề này. Bình Dương cho rằng biện pháp này khá tốt: “Như vậy thì người ta sẽ không còn có cơ hội trữ hàng hiếm để kiếm lời nữa; quả là một chính sách tốt đấy.”

  Nhưng Mã Câu lại cau mày, suy nghĩ mãi rồi bất ngờ lắc đầu thở dài: “Eh… ehm, có lẽ đây không phải là một chính sách tốt đâu; thực ra… đây là một chính sách xấu xa!”

  Bình Dương nhìn Mã Câu và hỏi: “Làm sao lại gọi đó là chính sách xấu xa được?” Rồi anh ta nhấc cuốn “Shuowen Jiezi Xin Zhu” đang cầm trên tay lên cao hơn một chút và tiếp tục nói: “Nếu không có biện pháp tốt này, làm sao chúng ta có thể có được cuốn sách này? Chẳng lẽ Mã Câu không biết trước đây cuốn “Shuowen Jiezi Xin Zhu” đã được bán với giá bao đắt đỏ sao? Nếu không phải vì vậy, làm sao lại có thể có những cuốn sách với giá vừa túi tiền để mua được? Vậy thì làm sao có thể gọi đó là chính sách xấu xa được?”

  Mã Câu bắt đầu lắp bắp, nói một cách vụng về: “Đừng quên về chính sách quản lý muối và sắt… Biện pháp của Tướng Phi Kỵ này… chỉ… chỉ nhằm mục đích thu thập nhiều thuế và lợi nhuận thôi… Nhưng nếu việc này áp dụng được ở đây, thì ở những nơi khác sẽ thế nào đây? Nếu… nếu không thế, chẳng phải đó là hành động cạn kiệt nguồn lực sao?”

  Bình Dương ngẩn ngơ một lát, rồi lắc đầu nói: “Cũng không chắc đâu… Hiện nay, các hiệu sách dưới sự quản lý trực tiếp của Tướng Phi Kỵ vẫn đang hoạt động bình thường mà… Nếu có người khác lợi dụng điều này để kiếm lời… thì việc làm của Tướng Phi Kỵ cũng là điều bình thường thôi…” Hiện nay, các hiệu sách ở Bình Dương đều thuộc sự quản lý trực tiếp của Tướng Phi Kỵ; việc quan tâm đến lợi ích của ông ấy là điều hiển nhiên mà… Giống như khi chủ vườn cây có trái cây chín, người chủ không những không tìm cách ngăn chặn kẻ trộm mà còn tuyên bố rằng có quá nhiều kẻ trộm nên không thể ngăn chặn được… Dù sao thì những gì mất đi cũng chỉ là những cây trái đó mà thôi… Hơn nữa, việc này còn giúp nhiều người biết đến vườn cây của mình hơn nữa, cũng là một hình thức quảng bá tốt đấy…

  “Người nông dân sống nhờ vào ruộng đất của mình; người thợ thì sống nhờ vào kỹ năng của mình…” Mã Câu lắc đầu nói, “Người buôn bán sống nhờ vào việc kinh doanh; còn quan lại thì sống nhờ vào lương bổng của mình…”

  “Quan lại sống nhờ vào lương bổng

Tại cuộc họp về công nghiệp muối và sắt, Sương Hồng Dương cho rằng các chính sách quản lý nhà nước đối với ngành muối và sắt, cùng các biện pháp như điều chỉnh giá cả, phân bổ hàng hóa một cách công bằng và kiểm soát việc sản xuất rượu đều có lợi cho đất nước và người dân, giúp tăng thu nhập cho quốc gia đồng thời ngăn chặn sự phát triển quá mức của các thế lực địa phương; trong khi đó, phe Tiên Lương Văn Học lại cho rằng những chính sách này đang cạnh tranh lợi ích với người dân, và con đường cơ bản để làm giàu đất nước là phải tăng cường sản xuất nông nghiệp.

Có thể nói, các chính sách thời Đại Đế trong thời gian ngắn đã mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp tích lũy được một lượng lớn tài sản, từ đó bù đắp cho kho bạc trống rỗng của quốc gia, giúp chiến dịch chinh phục Hung Nô không bị đình trệ giữa chừng. Tất nhiên, một phần số tiền đó cũng được Đại Đế sử dụng vào việc xây dựng các công trình lớn; những cung điện trong Vườn Thượng Lâm chính là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Đồng thời, nhiều quan chức trong quá trình thực thi các chính sách này cũng đã lợi dụng chúng vì mục đích cá nhân, khiến cho hiệu quả thực hiện bị suy giảm thậm chí còn gây ra những hậu quả ngược lại; đây cũng chính là lý do khiến phe Tiên Lương Văn Học phản đối những chính sách này.

Mã Phục thì không quá quan tâm đến những vấn đề này; anh ấy chỉ cảm thấy việc có sách để đọc đã là điều may mắn rồi. Những vấn đề khác thì quá xa xôi, không phải là điều anh ấy cần phải suy nghĩ. Không ngờ khi anh ấy nói ra điều này, Mã Câu lại lập tức phản đối mạnh mẽ: “Những ưu và nhược điểm của chính sách, nếu không được nói ra một cách trực tiếp… thì làm sao có thể biết được?”

“Được rồi, được rồi, bạn quyết định thôi…” Mã Phục không muốn tranh luận với Mã Câu nữa, “Bạn có muốn quay lại đọc sách không?”

Mã Câu nhìn anh ta chằm chằm, thở dài một tiếng rồi im lặng đi tiếp về nơi ở để đọc sách.

Không bàn đến việc Mã Phục và Mã Câu đã chuẩn bị như thế nào tại nơi ở của mình, chỉ xét về Fêi Tiềm, lần này khi đối mặt với hình thức sơ bộ của kỳ thi khoa cử, anh ta cũng cảm thấy có nhiều suy nghĩ và lo lắng.

Khoa cử là gì?

Nếu hiểu theo nghĩa đen thì đó chính là việc tổ chức các kỳ thi theo từng lĩnh vực, sau đó dựa trên kết quả thi để chọn người xứng đáng. Nhưng bây giờ, Fêi Tiềm thậm chí không dám nói ra từ “khoa cử”, cũng không thể công khai tuyên bố rằng “chỉ chọn người dựa trên tài năng”.

Việc tổ chức các kỳ thi theo từng lĩnh vực trong học viện hiện nay, về căn bản, không có vấn

Những người có dòng dõi cao quý, từ khi sinh ra đã định mệnh sẽ trở thành quan lại cấp cao; những người có dòng dõi thấp kém, dù có tài năng đến đâu vẫn chỉ là nô lệ. Vì vậy, vào thời bấy giờ, không quan trọng bạn thuộc địa vị nào; thậm chí có quốc gia duy nhất coi nô lệ cao hơn cả các quan lại cấp cao, đó chính là Quốc gia Tần.

Tuy nhiên, việc Lưu Bang thành lập triều đại Hán không có nghĩa là các gia tộc quý tộc cũ ở khắp nơi đều bị xóa sổ hoàn toàn. Chính chế “cử hiếu liêm” đã phá vỡ hoàn toàn hệ thống tuyển chọn nhân tài dựa trên dòng dõi được áp dụng trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc.

Vì vậy, ở một mức độ nào đó, chính sách tuyển chọn nhân tài thông qua “cử hiếu liêm” cũng mang tính tiên tiến.

Nhưng chính sách này lại trở thành nền tảng cho sự liên kết và hợp tác giữa các gia tộc quý tộc, cùng với những người học trò, cựu đồng nghiệp của họ, và cả những người dân phụ thuộc vào những gia tộc này. Thông qua chính sách này, các gia tộc quý tộc đã tạo ra những mối liên kết và nhóm lợi ích chung với nhau.

Trong khi đó, hệ thống khoa cử đã phá vỡ hoàn toàn những rào cản liên quan đến xuất thân gia đình hay nhóm lực lượng; về mặt lý thuyết, ngay cả những người nông dân không có gia thế hay nền tảng gì cũng có thể tham gia kỳ thi công vụ, ngang hàng với con cháu của các gia tộc quý tộc có truyền thống làm quan. Điều này đã làm tăng đáng kể tính lưu động giữa các tầng lớp trong xã hội, từ đó thúc đẩy sự sôi động của toàn bộ xã hội.

Tuy nhiên, chính hệ thống khoa cử cũng khiến cho tầng lớp phong kiến ở Hoa Hạ trở nên cực kỳ mạnh mẽ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả các nhóm phong kiến ở nước ngoài. Sức mạnh đó đã ngăn cản sự trỗi dậy của tầng lớp tư sản; ngay cả trong xã hội thương mại phát triển mạnh mẽ như thời đại Song, Hoa Hạ vẫn không thể chuyển sang xã hội tư bản như các nước khác, mà vẫn tiếp tục bị kìm hãm.

Tất nhiên, sự hòa nhập lớn của các dân tộc thiểu số cũng góp phần vào điều này…

Tuy nhiên, những hạn chế của hệ thống khoa cử cũng đã được Fi Qian cải thiện dần. Nhưng hiện nay, chính sách “cử hiếu liêm”, cùng với hệ thống “cửu phẩm trung chính” do Trần Quân đề xuất sau này, đã hoàn toàn cản trở sự phát triển của xã hội. Dưới những chính sách này, người bình thường hoàn toàn không có cơ hội để thành công; đây chính là nguyên nhân gây ra những xáo trộn trong xã hội, và cũng là yếu tố sâu xa ảnh hưởng đến sự hòa nhập lớn của các dân tộc sau này.

Bởi vì khi không thể đạt được lợi ích thông qua những phương thức bình

1/1 0%