lore

Chương 2492: Không thể chịu đựng nổi

17,108 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Khi gặp phải nhiều vấn đề ở Giang Đông, cuộc hội thảo lớn tại Chính Long Tự ở Quan Trung cũng gặp phải một số trục trặc; tất nhiên, những vấn đề này chủ yếu xuất phát từ những va chạm về mặt văn học và tư tưởng.

Đây cũng chính là ý định ban đầu của Phì Tiềm khi tổ chức cuộc hội thảo này. Chỉ có những va chạm tư tưởng mới có thể tạo ra những “pháo hoa” của văn minh.

Nhưng không ai ngờ rằng điểm khởi đầu cho những cuộc va chạm tư tưởng mạnh mẽ lại không phải là Lục kinh, mà chính là “Kinh Hiếu”.

Phong cách của người Hán dường như đang thay đổi một cách âm thầm.

“Kinh Hiếu” được cho là những lời dạy để lại bởi các môn đệ của Khổng Tử. Tất nhiên, Khổng Tử đã qua đời từ lâu rồi; những gì ông đã nói, chỉ có các môn đệ và hậu duệ của ông mới có thể cam đoan rằng đó chính là lời nói của ông.

Bản “Kinh Hiếu” hiện đang được lưu truyền ở Hán quốc ban đầu do Nguyễn Chi, người xứ Hà Gian, sưu tập và sau đó con trai ông là Nguyễn Trân đã hiến tặng. Nhìn vào họ của họ, ta có thể biết rằng đây là hậu duệ của người truyền bá bản kinh này.

Sau đó, “Kinh Hiếu” này được nhiều người như họ Trương Tống, tiến sĩ Giang Vũng, Thượng phụ Hậu Cang, Tuần công Y Phụng, Hầu An Xương Trương Dực… cùng nhau xác nhận và đóng dấu chứng nhận, khẳng định rằng nội dung của bản kinh này giống hệt với bản “Kinh Hiếu” trong gia đình họ, từ đó xác định rõ tính chính thống của nó – giống như việc các chuyên gia đánh giá vật cổ cấp giấy chứng nhận vậy.

Đó chính là “Kinh Hiếu Bản Văn”, gồm tổng cộng mười tám chương.

Nhưng điều thú vị là, vài năm sau, Vua Lỗ Cung, một người nổi tiếng với việc phá dỡ các công trình cổ ở Hán quốc, đã tiến hành phá dỡ ngôi nhà cũ của Khổng Tử… Điều này cho thấy rằng hành động “phá dỡ cưỡng bức” thực sự cũng là một truyền thống của người Hoa Hạ. Trong quá trình đó, họ đã tìm thấy các cuốn sách như “Thượng Thư”, “Lễ Ký”, “Luận Ngữ”, “Kinh Hiếu”… tổng cộng hàng chục bài văn; Khổng An Quốc đã thu thập được tất cả những cuốn sách này. Nhưng bản “Kinh Hiếu” được tìm thấy trong quá trình phá dỡ lại có tới hai mươi hai chương…

Ê?! Trước đây không phải đã có các chuyên gia đánh giá ký tên xác nhận rằng tất cả đều là bản gốc, và “Kinh Hiếu” đều gồm mười tám chương sao?

Chẳng lẽ những chuyên gia đó…

Sau đó, lại có những chuyên gia khác xuất hiện, với khuôn mặt đỏ bừng, tuyên bố rằng: “Cái này… cái kia… tất cả đều giống nhau, đều giống nhau… Ha ha ha, he he he, tạm biệt, tạm biệt…”

“Cha mẹ và anh trai đều phải được kính trọng nghiêm ngặt. Vợ con và tôi tớ thì chỉ giống như những người dân bình thường hay lao động chăm chỉ mà thôi.”

Các chương khác thì có sự sắp xếp lại và thay đổi về kiểu chữ viết một chút.

Những sự khác biệt này thực ra không quá lớn, bởi vì vào thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, một số từ ngữ đã có sự biến đổi và phát triển vào thời Đinh Hán; ví dụ như “vong” và “vô”, “tật” và “bệnh”, cũng như “nữ” và “thù” v.v. Những khác biệt trong thói quen ngôn ngữ cũng là do sự thay đổi của từng thời đại, điều này hoàn toàn bình thường và không thể dùng để xác định rõ xem cuốn “Kinh Hiếu Nghĩa bản cổ” hay “Kinh Hiếu Nghĩa bản mới” cái nào là phiên bản gốc, cái nào là sau này được thêm vào. Miễn là ba hay bốn yếu tố đó được kết hợp lại với nhau mà không qua bất kỳ quá trình sửa đổi nào, thì cũng không sao cả.

Chỉ có điều, có một chương duy nhất bị thiếu! Đó là chương về “Gia đình”.

Tất nhiên, không ai biết chắc liệu là do các môn đồ của Khổng Tử đã quên không ghi chép nó, hay là các học giả thời bấy giờ đã cố ý “tránh né” việc đề cập đến chủ đề này, vì cho rằng điều đó không phù hợp với địa vị của Khổng Tử.

Tuy nhiên, các học giả Nho học sau này cũng có quan điểm cho rằng, có lẽ chính vì câu nói “Cha hiền không bằng Yao, nhưng Dan Zhu đã bị loại bỏ; Con hiền không bằng Shun, nhưng Gu Shu lại cứng đầu; Anh trai hiền không bằng Shun, nhưng Xiang lại kiêu ngạo; Em trai hiền không bằng Chu Công, nhưng Guan Shu đã bị trừng phạt; Thần tử hiền không bằng Thang và Wu, nhưng Jie và Zhou đã bị tiêu diệt”, nên chương về gia đình mới bị xóa bỏ. Nếu không, thì thật là không ổn chút nào…

Và cuộc tranh luận hiện tại tại Chính Long Tự không phải là về sự khác biệt giữa các phiên bản Kinh Hiếu Nghĩa cổ và mới, mà là về việc mở rộng, giải thích và diễn giải nội dung của Kinh Hiếu Nghĩa. Dù sao thì, hiện tại chúng ta đang thảo luận về “giải thích chính thức” về nội dung của Kinh Hiếu Nghĩa mà thôi.

Trong những phần mở rộng, giải thích và diễn giải này, điểm mâu thuẫn nổi bật nhất liên quan đến vấn đề “lễ tang”. Một số người cho rằng, phong tục lễ tang, đặc biệt là lễ tang hậu hĩnh, đã trở thành xu hướng chính ở Hoa Hạ chính là do ảnh hưởng của Nho giáo, đặc biệt là vào thời Hai Han, khi phong tục này càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, thực tế thì…

Nếu xét về thời điểm ra đời của khái niệm “hiếu”, quan điểm phổ biến là nó xuất hiện vào thời đại Chu, nhưng ý nghĩa cơ bản của “hiếu” mới được xác định rõ là “làm vi

Nguyên nhân của điều này không hẳn là vì những người đó đã cảm nhận trước được ý nghĩa của việc “làm điều tốt cho cha mẹ” như được đề cập trong Kinh Hiếu Đạo, mà bởi vì vào thời đó, mọi người tin rằng linh hồn con người sẽ không bị tiêu diệt sau khi chết.

Họ khao khát sống lâu dài, khao khát được tái sinh; họ tin rằng cái chết không phải là sự hủy diệt, mà linh hồn sẽ mãi tồn tại.

Đây mới chính là lý do chính khiến cho nghi thức mai táng hoành tráng xuất hiện.

Trước giữa kỷ Đồ đá cũ, mọi người tin rằng linh hồn của tổ tiên sau khi chết vẫn có thể gây hại hay bảo vệ con cháu, can thiệp vào cuộc sống của họ. Dưới ảnh hưởng của quan niệm này, nghi thức mai táng hoành tráng tự nhiên xuất hiện trong các tập tục tang lễ.

Vì cho rằng linh hồn người chết vẫn còn ý thức, nên những người còn sống sẵn sàng chi tiền rất nhiều để mai táng người đã khuất một cách hoành tráng, nhằm mong muốn được an lòng và tin rằng mình sau khi chết cũng sẽ sống trong sự giàu có và yên bình. Như vậy, người sống không hối tiếc, người chết cũng được an ủi. Dưới ảnh hưởng của quan niệm và tâm lý này, nghi thức mai táng hoành tráng đã trở thành một phong tục phổ biến trong xã hội thời bấy giờ và kéo dài suốt một thời gian dài.

Ban đầu, nghi thức mai táng hoành tráng chỉ đơn thuần là việc “đưa theo những vật quý giá khi chôn cất”. Điều này có nghĩa là “đối xử với người đã khuất như đối xử với người còn sống”, tức là đem những vật phẩm mà người đã khuất yêu thích nhất, quý giá nhất, chôn theo họ để bày tỏ nỗi tiếc thương, và cũng để tin rằng người đã khuất dưới lòng đất vẫn có thể sử dụng những vật phẩm đó. Thực ra, quan niệm này ban đầu không liên quan mấy đến việc “làm điều tốt cho cha mẹ”.

Bởi vì trong những ngôi mộ thời kỳ đầu, ngay cả những đứa trẻ nhỏ cũng được chôn theo cùng với rất nhiều vật phẩm quý giá. Phải chăng việc chôn theo những đứa trẻ nhỏ như vậy cũng là để “làm điều tốt cho cha mẹ”?

“Điều này thật là đảo lộn nguyên tắc!” Quản Ninh nói một cách quả quyết, nhìn quanh mọi người, ánh mắt anh ta toát lên vẻ kiên định không cho phép ai tranh luận, “Lòng hiếu thảo không phải được đánh giá qua việc có chôn cất cha mẹ một cách hoành tráng hay không! Nếu một người con hàng ngày không thể hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, nhưng chỉ sau khi cha mẹ qua đời mới tổ chức lễ tế, khóc lóc, tổ chức lễ tang long trọng, chi tiêu rất nhiều tiền để mai táng, liệu đó có thể coi là đã thể hiện đầy đủ lòng hiếu thảo không? Nếu một người trong khi còn sống không được cha mẹ nuôi dưỡng, nhưng sau khi

  ‘Hãy nhìn xem, tất cả các lăng mộ ở Trường An đều bị cướp phá!’

  ‘Hàng trăm ngàn người của phe Đỏ Mày và các nhóm khác đã xâm nhập vào khu vực này, đốt cháy cung điện và các khu chợ ở Trường An; người dân đói khát đến mức phải ăn thịt lẫn nhau, hàng trăm ngàn người đã thiệt mạng… Trường An trở nên hoang vắng, không một ai còn sống trong thành phố. Các đền thờ tổ tiên và lăng mộ đều bị đào bới, chỉ có lăng Ba Lăng và lăng Đỗ Lăng là còn nguyên vẹn!’

  ‘Việc chôn cất hậu hĩnh không phải là biểu hiện của lòng hiếu thảo, mà là cách để tranh danh giá phải không? Hơn nữa, việc để kẻ trộm xâm nhập vào lăng mộ khiến cho linh hồn người đã khuất cũng không thể yên nghỉ được! Liệu điều này có thể gọi là lòng hiếu thảo không? Thật là đáng ngạc nhiên!’

  ‘Nếu muốn hiểu đúng ý nghĩa của Kinh Hiếu Thảo, chúng ta cần tìm ra câu trả lời chính xác!’

  ‘Từ hôm nay trở đi, chúng ta hãy tuân theo ý định ban đầu của Khổng Tử – lòng hiếu thảo thể hiện qua việc chăm sóc cha mẹ trong cuộc sống hàng ngày, chứ không phải chỉ sau khi họ qua đời mới thực hiện việc chôn cất hậu hĩnh!’

  Quản Ninh nói rất rõ ràng và dựa trên nhiều ví dụ cụ thể, trong đó có tình trạng các lăng mộ ở Trường An bị cướp phá, điều này thực sự rất thuyết phục mọi người.

  Khi mới mười sáu tuổi, Quản Ninh đã mất cha. Những người anh em họ của anh đều thương xót anh vì sự cô đơn và nghèo khó, và đề nghị cho anh tiền để lo liệu tang lễ cho cha, nhưng Quản Ninh đã từ chối tất cả và tự bỏ tiền của mình ra để lo cho cha mình. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, việc làm này quả thực rất dũng cảm.

  Cần phải biết rằng lúc đó Quản Ninh mới chỉ mười sáu tuổi mà thôi!

  Quản Ninh khẳng định rằng bản chất của lòng hiếu thảo không hề liên quan đến việc chôn cất hậu hĩnh, và ông cũng cho rằng trong những lời giảng của Khổng Tử về đạo hiếu, cũng không hề đề cập đến việc cần phải chôn cất hậu hĩnh, mà chỉ yêu cầu phải tuân theo “lễ nghi”.

  Về việc “lễ nghi” nào mới thực sự phù hợp với đạo hiếu, Quản Ninh cho rằng điều quan trọng nhất là “sự tôn trọng” và “việc chăm sóc”. “Chăm sóc” là biểu hiện bên ngoài của lòng hiếu thảo, còn “sự tôn trọng” là điều kiện tiên quyết trong tâm hồn con người, là nền tảng để lòng hiếu thảo được thực hiện. Chỉ khi sự tôn trọng được thể hiện thông qua hành động chăm sóc, thì mới có thể gọi đó là lòng hiếu thảo; lòng hiếu thảo chính là sự kết hợp giữa tấm lòng tôn trọng và hành động chăm sóc.

  Nếu chỉ có “chăm sóc” m

Nếu không chôn cất thịnh soạn, đó chính là bất hiếu! Đây gần như là quan điểm cố hữu của những người ủng hộ luật lệ trong thời Đại Hán; nếu không có những người kiên định như Quản Ninh, thì rất dễ bị áp lực từ lời nói của mọi người hay tiếng đồn xung quanh mà buộc phải chôn cất thịnh soạn, thậm chí phải bán nhà, bán đất, bán cả bản thân để chi trả cho những khoản tiền như “phí tạ ơn và hiếu thảo” hay “tiền cho con đường vàng”. Nếu không thêm các dịch vụ như tắm thơm, spa… thì việc không tiêu hết gia sản coi như là không xứng đáng làm con người!

Nhưng thực tế, phong tục này chỉ mang lại lợi ích cho một số ít người. Điều quan trọng nhất là những quan chức cấp thấp được hưởng lợi từ nó. Hoàng đế thúc đẩy đạo Khổng giáo và coi trọng đạo hiếu là vì lý do quản lý, còn các quan chức địa phương thúc đẩy đạo hiếu là để đạt thành tích trong công việc. Các quan chức cấp thấp thì lợi dụng điều này để thu lợi riêng; họ kêu gọi chôn cất thịnh soạn không phải vì đạo hiếu, mà vì lợi ích cá nhân!

Những quan chức này liên kết với các gia đình giàu có ở nông thôn, tận dụng lòng tự trọng mạnh mẽ của người dân thời Đại Hán – giống như những bữa yến tiệc trong cuộc sống hàng ngày hoặc những lễ cưới hoành tráng – để thu thập tiền bạc. Nói một cách đơn giản, việc chôn cất thịnh soạn không quan trọng đối với người đã khuất, mà quan trọng đối với người còn sống…

Thực tế, phong tục chôn cất thịnh soạn thời Đại Hán bắt nguồn từ những hành vi xa xỉ của tầng lớp cai trị, đặc biệt là các vương hầu, người thân của hoàng đế và eunuch. Những người này vừa là những người hưởng lợi về mặt chính trị, vừa là những người giàu có về mặt kinh tế, nên họ có khả năng vượt qua những ràng buộc của luật lệ để thực hiện những hành vi xa xỉ. Lý do tại sao phong tục này không thể bị ngăn chặn là bởi vì vị trí chính trị, kinh tế của họ và những hành vi xa xỉ đó.

Trên thực tế, có rất nhiều học giả theo đạo Khổng giáo thực sự phản đối phong tục chôn cất thịnh soạn. Người như Quản Ninh chủ yếu ủng hộ việc chôn cất theo nghi lễ, coi trọng “sự cẩn thận trong tang lễ”, nhấn mạnh rằng tang lễ nên dựa trên sự đau buồn thực sự, phản đối những hình thức chôn cất thịnh soạn chỉ mang tính hình thức, và lên án mạnh mẽ những hành vi chôn cất vượt quá giới hạn của luật lệ.

Việc phản đối chôn cất thịnh soạn và ủng hộ sự tiết kiệm đã được đề cập không ít lần trong triều đình thời Đại Hán; thậm chí còn có những sắc lệnh chính thức yêu cầu các địa phương ngăn chặn việc chôn cất thịnh soạn và thúc đẩy việc chôn

Bởi vì sau này, người ta cũng đã khai quật ra rất nhiều báu vật từ lăng mộ của Đổng Trác tại Bá Lăng. Chỉ là trước đó, quân đội Đỏ Mày và những kẻ như Đổng Trác, Lý Quách… đều nghĩ rằng trong lăng mộ ấy thực sự không có gì cả, hoặc họ cho rằng việc khai quật Bá Lăng không mang lại lợi ích bằng việc khai quật các nơi khác…

Đến thời Đường Tấn, truyền thuyết về việc chôn cất một cách giản dị tại Bá Lăng đã bị phá vỡ. Có lẽ vào thời điểm đó, những “gói kinh nghiệm” quý báu đã được sử dụng hết, nên việc chôn cất một cách “giản dị” cũng được thực hiện. Vào cuối thời Tây Đường, hàng nghìn hộ dân nghèo khó ở Trường An như Yển Hoàn, Giải Vũ… đã “đánh cắp và khai quật lăng mộ của Hán Đổng Trác, Du Đôi Lăng”, và thu được rất nhiều báu vật quý giá.

Vào thời Đông Hán, di chiếu của Đại Đế cũng khuyến cáo việc chôn cất một cách giản dị. Điều đáng chú ý là trong sắc lệnh này, Đại Đế không chỉ không thấy sự mâu thuẫn nào giữa lòng hiếu thảo của con cái và việc chôn cất giản dị, mà ngược lại, ông coi đó là hành động mà những người con hiếu thảo nên thực hiện.

Sau đó, vào các năm Thứ 12 niên hiệu Vĩnh Bình của Hán Minh Đế, Thứ 2 niên hiệu Kiến Chu của Hán Chương Đế, Thứ 11 niên hiệu Vĩnh Nguyên của Hán Hòa Đế, cùng với Thứ 1 niên hiệu Vĩnh Chu và Thứ 5 niên hiệu Nguyên Chu của Hán An Đế, các sắc lệnh cấm việc chôn cất xa hoa cũng được ban hành.

Tuy nhiên, giống như trường hợp của Đại Đế khi áp dụng chính sách chôn cất giản dị, lăng mộ của Đổng Trác vẫn tiếp tục được khai quật để tìm kiếm báu vật. Thói quen “vừa nghe theo lời dạy mà vừa làm trái” của các quan lại Đại Hán vẫn được thể hiện một cách rõ ràng.

Tất nhiên, có lẽ còn có những lý do liên quan đến việc cai trị, chẳng hạn như những chính sách của Thương Ưng…

Những ý kiến của Quản Ninh cũng đã vấp phải rất nhiều sự phản đối. Dù sao thì vẫn có rất nhiều người không muốn tuân theo, đặc biệt là những người đang nắm giữ quyền lợi.

Dù sao thì chỉ khi người dân sống trong cảnh nghèo khó, bận rộn với sinh kế hàng ngày, họ mới không nghĩ đến những điều phiền phức khác; nếu không, họ sẽ luôn muốn xây dựng thêm đèn đường này nọ… Thật là đáng sợ! Trong số những người phản đối Quản Ninh, cũng có những người tìm được những “vũ khí” phù hợp để đối phó với ông.

Giống như việc công thành luôn dễ bị tấn công từ bên trong nhất, thứ duy nhất có thể đánh bại ma thuật cũng chính là ma thuật; thứ duy nhất có thể bác bỏ những giáo lý Nho giáo cũ

“Đối với phụ nữ trên thế gian này, việc tôn trọng họ là điều quan trọng nhất; còn việc chăm sóc họ bằng những nguồn lực có sẵn cũng là điều cần thiết nhất. Đây chính là tinh hoa của các giáo lý kinh điển, là nguyên tắc cơ bản trong đạo đức xã hội, là lý lẽ tự nhiên của trời đất… Làm sao có thể lơ là hay coi thường những điều này được?”

Ngay lập tức, những tiếng phản đối ồ ạt vang lên.

Trong số những ý kiến đó, đa số đều dựa trên lời dạy của một vị hiền triết khác – đó chính là Mạnh Tử.

Phải chăng Khổng Tử và Mạnh Tử không thể tách rời nhau…

Mạnh Tử không chỉ đề xuất chính sách nhân từ mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo hiếu; bản thân ông cũng đã thực hiện những điều đó một cách nghiêm túc. Khi mẹ của Mạnh Tử qua đời, ông đã sai đệ tử Chōng Ngụ đi mời thợ làm quan tài và yêu cầu phải làm quan tài thật tốt để an táng mẹ mình một cách trang trọng.

Chōng Ngụ cho rằng yêu cầu của Mạnh Tử đối với quan tài quá cao, quá xa xỉ, và hỏi liệu có cần thiết phải làm quan tài đẹp đến thế không.

Mạnh Tử trả lời: “Người xưa không quy định cụ thể kích thước quan tài. Vào thời Trung cổ, quan tài có chiều dày bảy inch, và cái khung bên ngoài cũng được làm tương xứng. Từ hoàng đế cho đến người dân bình thường, việc sử dụng quan tài đẹp không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp mà còn để thỏa mãn mong muốn của con người; ai có tiền thì mới có thể làm như vậy. Người xưa đều làm như vậy, tại sao tôi lại không thể?”

Theo Mạnh Tử, nếu người xưa có thể sử dụng quan tài đẹp, thì ông cũng có quyền làm như vậy; và chỉ khi làm như vậy thì mới coi là đã thể hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, đồng thời cũng là biểu hiện của sự giàu có. Vậy tại sao không thể an táng mẹ mình một cách trang trọng?

Nói cách đơn giản, đó là “có tiền thì làm theo ý muốn của mình!”

Vậy thì, liệu Mạnh Tử có sai không?

Thực ra, ông không hề sai.

Nhưng vấn đề là những đệ tử và hậu duệ sau này đã phóng đại và lệch lạc ý kiến của Mạnh Tử.

Mạnh Tử có tiền, nhưng không phải tất cả mọi người đều có tiền.

Giống như những người trong thời hiện đại thường than phiền: “Tại sao giới trẻ không đi làm ở nhà máy?” Ồ, không đúng rồi, phải là “Tại sao giới trẻ lại không thể thực hiện nghi lễ an táng trang trọng?”

Khi những người cai trị ở vị trí cao không hiểu rõ tình hình thực tế, và những quan điểm như vậy lan tràn trong tầng lớp lãnh đạo, chỉ suy nghĩ về lợi ích riêng mà không tìm cách thay đổi, thì chắc chắn sẽ phát sinh những vấn đề xã hội nghiêm

1/1 0%