lore

Chương 2144: Một thành nối với bốn phương

16,957 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lần nàyPhí Tiềm đi rồi, không ai biết khi nào ông ấy mới trở lại. Về những việc liên quan đến kinh doanh tại thành Văn,Phí Tiềm đã giao phó cho Bèi Tuấn. Những hạt giống được gieo xuống, liệu cuối cùng chúng sẽ nảy mầm thành Hoa Hạy kết quả là trái cây gì, thì vẫn còn phải chờ thời gian để kiểm chứng.

Tất nhiên, lần này họ không thể ra đi ngay lập tức. Bởi vì Hoàng Thừa Ngạn cần chuẩn bị gia sản, còn Từ Hoàng và các binh sĩ khác cũng cần sắp xếp vật tư. Vì vậy, khi chính thức lên đường, vẫn cần một khoảng thời gian nữa. Vì thế, trong hai ngày qua,Phí Tiềm đã ở lại tại dinh thự của Bàng thị Bàng Sơn Dân, có thể coi như ông ấy đã “đổi vai trò từ khách thành chủ nhà”.

Khi đối phó với các thương nhân, không thể quá gần gũi với họ, nhưng cũng không thể xa cách quá mức. Những người này vì suốt ngày sống trong môi trường buôn bán, đôi khi tính cách của họ cũng bị ảnh hưởng, và trong một số khía cạnh, hành vi của họ thực sự khó lòng được người ta chấp nhận, đặc biệt là trong hệ thống đạo đức dựa trên lòng trung thành và hiếu thảo của người Trung Quốc.

Khi cha mẹ hay người thân ruột thịt qua đời, liệu họ có phải tuân theo nghi lễ tang ma không?

Nếu là con cháu của các gia tộc quý tộc bình thường, họ chắc chắn sẽ không do dự mà từ bỏ mọi hoạt động giải trí ngay lập tức để ở lại thăm viếng người đã khuất. Nhưng đối với các thương nhân… Nếu họ ngừng hoạt động trong ba năm, liệu các kênh thị trường ban đầu có bị người khác chiếm lĩnh hết không? Vì vậy, việc các thương nhân bị coi là thiếu lòng trung thành và hiếu thảo cũng có lý do của nó, dù là do yếu tố bên ngoài hay bên trong.

Tương tự như vậy, những kẻ cai trị địa phương ở khắp nơi…

Khái niệm “kẻ cai trị địa phương” không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực; ví dụ như Bàng Sơn Dân đang đối diện vớiPhí Tiềm lúc này.

Bàng Đức Công là một người thầy tốt, Bàng Sơn Dân cũng là một người chính trực. Nhưng những người khác trong gia tộc Bàng thị thì sao? Liệu tất cả những người được hưởng lợi từ Bàng Đức Công đều là những người tốt không? Còn con trai hay cháu trai của Bàng Sơn Dân thì sao? Chắc chắn họ cũng sẽ kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của Bàng Đức Công chứ? Rõ ràng là không hẳn vậy. Vậy trong tình huống như vậy, liệu gia tộc Bàng thị sau này có trở thành những kẻ cai trị địa phương tại thành Văn, những kẻ chỉ danh nghĩa thừa nhận sự cai trị của triều đình nhưng thực tế lại tự ý chiếm đóng địa phương không?

Ai cũng không biết.

“Tướng quân tại sao lại thở dài vậy?” Bàng Sơn Dân thấyPhí Tiềm có vẻ buồn bã, không khỏi hỏi.

FPhí Tiềm đặt cuốn thư xuống, chỉ

Văn Đế không nhẫn được nữa, liền ban cho vài cái gậy để răn dạy. Nhưng ông ấy quá nhân hậu, nên người ta tưởng rằng ông sẽ sửa sai và làm mới mình, thế nhưng lại càng trở nên kiêu ngạo hơn. Ông ta thậm chí còn lên núi đúc tiền, đun nước biển để lấy muối, và còn dụ các kẻ lưu lạc khắp nơi đến âm mưu làm loạn. Dù bây giờ giảm bớt quyền lực của ông ta đi, ông ta vẫn sẽ phản kháng; còn nếu không giảm bớt, sự phản kháng của ông ta sẽ chậm lại, nhưng tai họa sẽ càng lớn… Bàng Sơn Dân, ông nghĩ sao?

Cuốn thư mà Phi Tiềm đang xem chính là ghi chép về sự kiện “Loạn 7 nước” vào thời Hán Cảnh Đế. Loạn 7 nước… có lẽ chỉ là một vụ án máu do hai đứa trẻ ngỗ nghịch gây ra mà thôi?

Thấy Phi Tiềm hỏi, Bàng Sơn Dân suy nghĩ một lát rồi nói: “Quan thanh tra Chao đã nói rất thẳng thắn… nhưng cũng có phần đúng…”

Phi Tiềm mỉm cười và gật đầu: “Đúng vậy.”

Bàng Sơn Dân hơi nhíu mày.

Khi Phi Tiềm ngày càng có quyền lực, mỗi lời nói, hành động của ông ta cũng dần bị người ta hiểu lầm. Không chỉ trong dân gian, mà ngay cả khi đối mặt với Phi Tiềm, mọi người cũng luôn tự hỏi liệu ông ta có ý định gì đặc biệt, hay muốn truyền đạt những thông điệp ẩn ý nào đó…

Người ta thường ca ngợi thời đại Văn Kinh, như thể Văn Đế và Cảnh Đế là những vị hoàng đế tốt bụng và nhân từ. Nhưng thực ra…

Hán Cảnh Đế hoàn toàn không phải là người nhân hậu và từ thiện như những gì người ta nói. Khi xử lý với Chao Cuốc, ông ta đã sử dụng chiến thuật khéo léo: trước tiên dùng Chao Cuốc để thu hút sự chú ý, sau đó lại lợi dụng tình hình để phản bội Chao Cuốc và làm cho các vương gia khác yên tâm; chỉ sau khi dập tắt cuộc nổi loạn, ông ta mới giả vờ nhận ra sai lầm của mình…

Toàn bộ chuỗi hành động này thực sự là một ví dụ điển hình về một nhà chính trị giỏi.

Nếu so sánh với cách vua hiện tại đang cai trị… Ừm, nếu vua hiện tại thực sự giỏi như vậy, có lẽ Phi Tiềm sẽ không có cơ hội nào cả.

Vậy nên, việc vua hiện tại còn thiếu hiểu biết cũng có thể coi là một điều may mắn?

“Vì vậy, việc tướng quân muốn thực hiện ‘Luật về đất đai và ruộng đất’ cũng xuất phát từ điều này phải không?” Bàng Sơn Dân có vẻ đang diễn giải quá mức.

“Ừm…” Phi Tiềm suy nghĩ một lát, rồi gật đầu, nói: “Vào thời kỳ đầu của triều đại Hán, nếu một người đàn ông không cày cấy, họ sẽ đói; nếu một người phụ n

Bàng Sơn Dân gật đầu và nói: “Dưới này đã hiểu rồi…”

Bèi Tuấn nháy mắt và hỏi: “Cậu đã hiểu cái gì?”

Thôi kệ, dù sao cũng là đã hiểu thì tốt rồi. Bèi Tuấn mời Bàng Sơn Dân đến đây còn có một lý do khác nữa. Đó là muốn thúc đẩy hoạt động thương mại ở thành Vạn lên một tầm cao mới, và việc này chỉ riêng Bèi Tuấn thì không đủ, cần sự hợp tác của Bàng Sơn Dân nữa.

Đôi khi, khi nhìn vào các ghi chép lịch sử, Bèi Tuấn không khỏi cảm thấy buồn bã. Rõ ràng đã có những bài học từ quá khứ, nhưng những người sau vẫn cứ tiếp tục đi theo con đường đó mà không hề suy nghĩ. Có lẽ là do sức ảnh hưởng của thói quen cũ, hay là do những hạn chế của lịch sử?

Giống như những lần lịch sử đã chứng minh rằng, các quân chủ giai đoạn phong kiến với nền kinh tế nông nghiệp nhỏ bé luôn có những nhược điểm, nhưng lại liên tục rơi vào tình trạng sụp đổ và phân chia. Mặc dù biết rằng những người nông dân tự canh tác thường rất mong manh, chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể mất đi đất đai của mình, nhưng họ vẫn tiếp tục trở thành nông dân thuê đất hoặc nô lệ cho các giai cấp địa chủ.

Vì giai cấp địa chủ vào đầu thời Hán chưa phát triển mạnh mẽ, nên trong thời Văn Kinh người ta coi đó là “không có hậu quả của việc chiếm đoạt đất đai”, vì vậy cấu trúc chính trị vào thời đó rất đơn giản và phẳng. Quyền lực hoàng gia được xem là linh hồn của đế chế, mọi sự kiện quốc gia đều xoay quanh nó; hệ thống quan lại là sợi dây liên kết giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới, và hàng triệu nông dân nhỏ cung cấp lao động và thuế cho đất nước.

Nhưng cấu trúc này thực sự rất mong manh; bất kỳ khía cạnh nào gặp vấn đề đều có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của toàn bộ hệ thống.

Trước hết, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa dân số và đất đai. Nếu không có sự kết hợp này, đất nước sẽ mất đi nguồn lực sinh sản, và khả năng kiểm soát xã hội của nhà nước sẽ nhanh chóng suy yếu…

Tiếp theo, các quan lại cần phải có lòng trung thành, không được lừa dối hay tham nhũng; nếu không, những khoản thuế thuộc về đất nước sẽ bị thất thoát một cách lớn…

Cuối cùng, các địa phương cũng không được phép có quyền lực mạnh mẽ; nếu không, quyền lực hoàng gia sẽ trở nên vô nghĩa, và những sắc lệnh của Hoàng đế Lưu Hiệp sẽ không có giá trị gì so với những hành động của những kẻ như Bèi Tuấn hay Tào Tháo…

Và ba khía cạnh này, thực ra là những vấn đề mà luật pháp của đại Hán không thể giải qu

Khi đại Hán ổn định trở lại, trật tự xã hội được khôi phục và sản xuất tăng lên đáng kể, cả người dân lẫn quan lại đều có nhu cầu cao hơn về chất lượng cuộc sống. Việc điều chỉnh và thay đổi một cách phù hợp theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội mới chính là con đường đúng đắn để cai trị.

Sau hàng chục năm phục hồi và phát triển vào đầu thời nhà Hán, nền kinh tế đã được cải thiện, người dân giàu có hơn và quốc lực trở nên mạnh mẽ. Các quy định và luật lệ liên quan đến sự thống nhất quân chủ giai đoạn phong kiến cũng dần được thiết lập. Trong bối cảnh này, lý thuyết hướng dẫn cho việc cai trị của Nhà Hán nên bắt đầu chuyển từ “vô vi” sang “hữu vi”. Tuy nhiên, đáng tiếc là Hoàng đế Hán Cảnh, mặc dù đã thể hiện những biện pháp chính trị xuất sắc trong việc giải quyết cuộc loạn Chiêu Thành, nhưng vẫn còn thiếu sót trong công tác quản lý sinh hoạt và chính sách xã hội.

Lý thuyết ưu tiên nông nghiệp, coi thường thương nghiệp, với tư cách là một tư tưởng kinh tế được áp dụng rộng rãi trong các vương triều quân chủ giai đoạn phong kiến, đã dần trưởng thành vào thời đại của Hoàng đế Hán Cảnh. Tuy nhiên, lý thuyết này có những hạn chế nội tại: nó chỉ tập trung vào lĩnh vực công thương và quá nhấn mạnh vai trò của nền kinh tế tiền tệ trong xã hội, đồng thời ít chú trọng đến sản xuất kỹ thuật. Mặc dù nó có thể góp phần đẩy lùi những thương nhân giàu có và các lực lượng ly khai địa phương, cũng như tài trợ cho các chi phí tài chính lớn cần thiết cho việc tăng cường quyền lực trung ương, nhưng lý thuyết này vẫn được các vương triều quân chủ giai đoạn sau này kế thừa và trở thành tư tưởng kinh tế chính để duy trì quyền lực.

Vấn đề then chốt là việc áp đặt lý thuyết này đã khiến cho ngành công nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, trong khi ngành nông nghiệp vẫn còn tồn tại. Kết quả là, tầng lớp “sĩ” không còn đối thủ nào, và họ có thể tự do hành động theo ý muốn của mình. Không ai biết liệu đây là một sự tình cờ hay là một kế hoạch có chủ đích, nhưng để tránh tình trạng xấu xa này xảy ra lần nữa, Văn Thành đã trở thành một ví dụ điển hình ở vùng phía trước của quý tộc Sơn Đông.

Từ trận chiến ở Kinh Châu lần này có thể thấy rằng, dù là các nhóm quý tộc ở Kinh Châu hay ở vùng Duy Châu, mức độ chấp nhận lý thuyết của Phỉ Tiềm đều không cao lắm. Những người này vẫn thích ở trong vòng tròn quen thuộc của mình hơn là bước ra ngoài để tìm hiểu. Vì vậy, việc tổ chức các chuyến tham quan đến Quan Trung là điều khá khó thực hiện, và Văn Thành chính là một cơ hội

Điều này cũng gây ra một số vấn đề khác.

  KhiPhí Tiềm có mặt tại Quan Trung, ông đã nhiều lần nghe thấy những người buôn bán phàn nàn rằng việc buôn bán các mặt hàng từ Quan Trung ra ngoài rất dễ dàng; hầu như bất kể thứ gì được mang đi cũng đều có thể bán được. Nhưng khi muốn buôn bán từ Sơn Đông sang Quan Trung, lại không có nhiều hàng hóa thích hợp để mang theo. Đôi khi, họ chỉ có thể chọn những mặt hàng giá trị thấp như cá muối hay giấy gói giấm để kiếm tiền chi phí trên đường, điều này thực sự không mấy hấp dẫn.

  Người nói có ý, người nghe có tâm;Phí Tiềm nhận ra rằng điều này cho thấy tài sản của các gia tộc quý tộc Sơn Đông đang dần tập trung về Quan Trung, và cũng đồng nghĩa với việc mô hình thương mại này không thể kéo dài lâu…

  Trong kinh doanh, việc mua bán phải diễn ra hai chiều mới thành công được. Nếu các gia tộc quý tộc Sơn Đông liên tục bị thiệt hại như vậy, chắc chắn họ sẽ sớm nhận ra điều này. Mặc dùPhí Tiềm luôn cố gắng đổi mới các phương thức kinh doanh, quảng bá rằng chỉ những sản phẩm sản xuất tại Quan Trung mới là chính hãng, thêm vào đó còn đưa ra các biện pháp chống hàng giả đối với các loại hàng xa xỉ, và lan truyền tin đồn trong dân gian rằng những ai mua phải hàng giả sẽ bị chế giễu… nhưng nếu mô hình thương mại này tiếp tục duy trì, thì rồi các gia tộc quý tộc Sơn Đông sẽ không còn khả năng thanh toán nữa.

  Vì vậy, việc chuyển một phần các mặt hàng có giá trị thấp như bông, cỏ linh dương sang Sơn Đông sẽ giúp các gia tộc này cũng có thể sử dụng chúng để trao đổi, từ đó giảm bớt thiệt hại một cách từ từ, mà không gây ra phản ứng quá mạnh mẽ từ phía họ.

  Đó chính là vai trò thương mại quan trọng của Vạn Thành – “hai trăm dặm mà không cần đóng quân”.

  “Những người dân Bàng Sơn, hãy theo tôi…”

  KhiPhí Tiềm dẫn những người dân Bàng Sơn vào phía sau bức bình phong, họ bỗng nhận ra rằng phía sau bức bình phong nhà mình, không hiểu từ khi nào đã xuất hiện một chiếc bàn gỗ lớn, và trên chiếc bàn đó là một bàn cát khổng lồ mô phỏng các dãy núi và con sông…

  “Đây… đây là Vạn Thành sao?” Người dân Bàng Sơn nhìn vào bàn cát và tự hỏi, có vẻ như nó hơi khác so với những gì họ biết…

  Fai Tiềm gật đầu và giải thích: “Thiết kế của Vạn Thành cần được tái hoạch định… Ban đầu, thành phố được chia làm hai phần: phía bắc dùng để đặt các cơ quan chính quyền và dinh thự, còn phía nam thì đuổi hết những người dân thường ra ngoài, chỉ giữ lại những trạm dịch vụ và khu chợ cần thiết

Việc xây dựng một mô hình cát chỉ cần vài ngày làm việc của các thợ thủ công là đủ, nhưng để xây dựng nên một thành phố như vậy thì không thể chỉ trong vài ngày được…

“Bàng Sơn Dân cũng đừng vội vàng… Về tiền bạc và việc điều phối nguyên vật liệu xây dựng, Quan Trung sẽ hỗ trợ vào lúc cần thiết…” Văn Phi Tiềm nói nhẹ nhàng để an ủi người đối diện, “Ngoài ra, sau một thời gian nữa, tôi sẽ cử Gia Cát Lượng đến giúp đỡ… Ừm, sau mùa xuân năm sau, chúng ta sẽ bắt đầu thực hiện từ từ… Không cần vội vàng đâu.”

Trận chiến nội bộ tại Quan Trung thực ra cũng không có gì quá phức tạp; khi Văn Phi Tiềm trở lại đó, mọi chuyện sẽ được quyết định một cách rõ ràng. Việc Gia Cát Lượng tiếp tục ở lại Quan Trung sẽ không mang lại nhiều cơ hội để ông ta phát triển; thà rằng ông ta được điều đến Vạn Thành để giúp đỡ Bàng Sơn Dân thực hiện kế hoạch xây dựng mới cho Vạn Thành. Nếu Gia Cát Lượng thực sự có thể trở thành trợ lý đắc lực của Bàng Sơn Dân và biến kế hoạch đó thành hiện thực, thì có thể nói rằng ông ta đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong lĩnh vực phục vụ dân sinh và quản lý chính sách…

“Còn về nhân lực thì sao… Hiện nay, trong số những người dân di cư từ Kinh Châu, có rất nhiều người đang mắc bệnh…” Văn Phi Tiềm cười nói, “Những người này đang được các bác sĩ tại Bạch Thủy Y Viện chẩn đoán và điều trị… Những người vừa khỏi bệnh nặng cũng không thể đi xa, vì vậy họ sẽ được đưa đến đây… Bàng Sơn Dân có thể yên tâm cho họ canh tác, định cư xung quanh Vạn Thành; vào những thời gian rảnh rỗi sau mùa thu hoạch, chúng ta sẽ sắp xếp việc xây dựng tiếp theo… Nếu được điều phối cẩn thận, chúng ta sẽ không gặp phải tình trạng thiếu nhân lực đâu.”

Mặc dù Bàng Sơn Dân cũng biết rằng Trương Trung Cảnh rất giỏi y thuật, nhưng nghe Văn Phi Tiềm nói vậy, ông vẫn còn hơi do dự: “Bệnh dịch này cũng có thể được chữa khỏi à?”

Dù vào thời Đường Tây, đã có một số người bắt đầu nghiên cứu các phương pháp điều trị bệnh dịch, nhưng phần lớn các phương pháp đó đều không mang lại hiệu quả như mong đợi; hoặc là vì các quan chức địa phương chỉ muốn giải quyết vấn đề một cách đơn giản, nên hệ thống điều trị bệnh dịch vẫn chưa được phát triển một cách đầy đủ. Khi dịch bệnh bùng phát, người ta thường chỉ đơn giản là chặn các con đường, không cho người dân trong khu vực bị dịch thoát ra ngoài, và coi như vậy là xong chuyện.

Phương pháp này rõ ràng là lười biếng, và khiến người dân cảm thấy vô cùng sợ hãi trước bệnh dịch

Nhưng một khi không thể kiểm soát được tình hình, để nó lan rộng ra khắp nơi, mà không ai quan tâm đến việc đó, hoặc là không thể kiểm soát nổi, hoặc thậm chí từ bỏ việc quản lý, thì kết quả chắc chắn sẽ là xác chết đầy rẫy khắp nơi.

Các quan lại thời Đại Hán thường không hiểu điều này, vì vậy trong nhiều trường hợp, họ hoặc là phản ứng quá thụ động, hoặc là quá cực đoan đối với dịch bệnh; thậm chí có những trường hợp, để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, họ đã trực tiếp giết hết toàn bộ người dân trong khu vực bị dịch bệnh…

Tào Tháo và những người khác nghĩ rằng việc giao cho Phi Tiềm một đống người bị bệnh giống như việc vứt một đống khoai lang nóng bỏng; điều này không chỉ giúp tránh rủi ro lây nhiễm dịch bệnh cho toàn bộ quân Tào, mà còn có thể gây khó khăn cho Phi Tiềm, đồng thời cũng giúp họ thu hút được sự hỗ trợ của Quách Phụng và Hạ Hầu Uyên…

Nhưng Tào Tháo không ngờ rằng, nhờ vào các bác sĩ tại Bạch Y Viện, đặc biệt là những nghiên cứu và phương pháp điều trị dịch bệnh của Trương Cơ, đợt dịch bệnh bùng phát tại Kinh Châu lần này không hề nghiêm trọng như Bàng Sơn Dân và một số người dân bình thường nghĩ; đến một mức độ nào đó, nó vẫn có thể được kiểm soát được.

Hơn nữa, Phi Tiềm gần như đã biến những người dân Kinh Châu bị quân Tào bỏ rơi thành những người có ích; sau khi những người này hồi phục, sau khi trải qua cuộc khủng hoảng dịch bệnh này, họ tự nhiên sẽ phát triển lòng trung thành với Phi Tiềm, và cũng sẽ cảm thấy ghét bỏ quân Tào; điều này sẽ rất có lợi cho sự ổn định và phát triển sau này của nhóm chính trị do Phi Tiềm lãnh đạo.

Phi Tiềm nhìn Bàng Sơn Dân và cười nói: “…Ngày này thành phố được xây dựng xong, chắc chắn sẽ là ngày mà tên tuổi của anh em Sơn Dân được ghi chép vào sử sách!”

Ánh mắt của Bàng Sơn Dân trở nên sáng lấp lánh hơn: “Chúng tôi sẽ tuân theo mệnh lệnh của Ngài!”

Với kinh nghiệm từ những thời đại sau này, Phi Tiềm hiểu rõ rằng khi một trung tâm thương mại được xây dựng xong, vòng luẩn quẩn thương mại khổng lồ đó sẽ giống như một lỗ đen, hút hết tài sản của các cửa hàng nhỏ xung quanh! Giống như khi các siêu thị lớn mở cửa, việc kinh doanh của các cửa hàng tạp hóa nhỏ xung quanh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng; một khi mô hình kinh doanh lớn của Vạn Thành được xây dựng xong, chắc chắn nó cũng sẽ tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các thị trấn xung quanh, đặc biệt là những hệ thống kinh tế gia trang ở khu vực Duy Châu…

1/1 0%