lore

Chương 2409: Luận điểm Đối lập (Cập nhật)

16,999 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong lúc Tôn Quân và Tào Tháo đang vận động những chiến thuật quyền mưu rõ ràng cũng như kín đáo để tranh giành quyền lực, thì tại khu vực Tam Phụ ở Trường An, lại có một nhóm người làm thuê đất đã hết hạn hợp đồng chuyển sang làm nông dân.

Những người nông dân này tại các khu vực canh tác được phân bố khắp Tam Phụ Trường An đã nộp hồ sơ của mình từ tư cách người làm thuê đất để đổi lấy hồ sơ nông dân mới; niềm vui của họ gần như tràn ra ngoài, và điều này đã trở thành một cảnh tượng đẹp đẽ trên mảnh đất Tam Phụ trong những ngày gần đây.

Người lưu dân thường không có đất canh tác, hoặc đã mất đi đất đai ban đầu của mình. Vì vậy, lựa chọn tốt nhất cho họ là trở thành người làm thuê đất cho các gia tộc địa chủ, và sống mãi trong vai trò đó qua nhiều thế hệ.

Tại Quan Trung, người đứng đầu giai cấp địa chủ lớn nhất chính là Phi Tiềm.

Chừng nào con người vẫn phụ thuộc vào đất đai, thì đất đai vẫn là tư liệu sản xuất quan trọng; giai cấp địa chủ sẽ mãi tồn tại, chỉ là cái tên của nó có thể thay đổi mà thôi.

Giống như chính sách canh tác hiện tại – dù không phải là lựa chọn tốt nhất, nhưng chắc chắn là phù hợp nhất với hoàn cảnh lúc này.

Đây là sản phẩm tất yếu của thời đại; không có chính sách nào có thể tách rời xa thực tế của thời đại.

Phi Tiềm cũng không ngoại lệ.

Trong quá trình hỗn loạn tại khu vực Hà Lạc và Quan Trung, rất nhiều gia tộc quý tộc hoặc là bị tiêu diệt hoặc là phải chạy trốn, điều này khiến Phi Tiềm có được nguồn lương thực và ngũ cốc riêng cho mình ngay từ đầu.

Những người làm thuê đất cho Phi Tiềm, ngoại trừ một số tù binh và nô lệ, phần lớn đều là những người lưu dân được tuyển mộ; họ ký kết hợp đồng làm thuê đất trong thời hạn 5 hoặc 10 năm, sau đó sẽ được nhận đất đai tương ứng theo thời hạn đó.

Chính sách canh tác này đã giúp những người lưu dân được tổ chức lại một cách hiệu quả, trở thành lực lượng cơ bản và then chốt dưới lá cờ Ba Sắc Kỳ của Phi Tiềm. Sau đó, Tào Tháo và Tôn Quân cũng bắt chước theo chính sách này, nhưng với những điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của mình.

Sự thay đổi lớn nhất là cả Tào Tháo lẫn Tôn Quân đều cho rằng Phi Tiềm thật ngốc khi sẵn lòng thả những người lao động này ra khỏi sự áp bức của mình, khiến họ trở thành những người tự do…

Nhưng Tào Tháo và Tôn Quân không hiểu rằng điều đáng sợ không phải là sự áp bức giai cấp, mà là sự cố định của các ranh giới giai cấp.

Chỉ cần mang lại cho tầng lớp thấp nhất một chút hy vọng, dù chỉ là một chút nhỏ, cũng đủ để họ tiếp tục lao động cực nhọc trên đồng ruộ

Dưới thời đại Đại Hán này, điều khan hiếm chính là dân số, chứ không phải đất đai.

Lấy Thành Trường An làm ví dụ, vào năm Nguyên Thủy thứ hai của triều Đông Hán, theo ghi chép trong “Sử Ký · Địa Lý Chí” của “Hán Thư”, quận Kinh Triệu quản lý 12 huyện, với hơn 195.000 hộ gia đình, tổng cộng khoảng 680.000 người.

Trong đó, riêng thành Thành Trường An có 80.000 hộ gia đình, với dân số khoảng 280.000 người. Nếu tính cả các thành viên hoàng tộc, binh sĩ và những người khác đang sinh sống tại Thành Trường An vào thời điểm đó, thì dân số của Thành Trường An vào thời kỳ thịnh vượng nhất của triều Đông Hán có thể lên tới khoảng 500.000 người.

Ngược lại, triều Đông Hán có dân số ít hơn rất nhiều, còn bây giờ thì…

Chỉ riêng thành Thành Trường An trong các thời đại sau này đã có dân số lên tới hàng chục triệu người!

Tất nhiên, giao thông và logistics hiện đại của các thời đại sau này là điều mà Đại Hán hiện tại không thể so sánh được, nhưng với kế hoạch và sắp xếp mà Phi Tiềm đang thực hiện cho Thành Trường An, việc duy trì dân số từ 1 đến 2 triệu người vẫn không thành vấn đề. Hơn nữa, xung quanh quận Kinh Triệu cũng có các huyện khác, những nơi này cũng có thể giúp phân tán dân số.

Do đó, có thể nói rằng, nếu các gia tộc quý tộc ở Quan Trung không theo sự lãnh đạo của Phi Tiềm, thì những người dân di cư, những lao động này sẽ tập trung về phía Phi Tiềm, và những trang trại cùng đất đai của họ sẽ bị giảm sản lượng hoặc thậm chí bị bỏ hoang do không tìm đủ người làm việc…

Đừng quên rằng Phi Tiềm còn có “Luật về đất hoang”; những khu đất bị coi là đất hoang sẽ bị hệ thống… à, thực ra là bị Phi Tiềm thu hồi một cách bắt buộc!

Mặc dù chắc chắn vẫn còn những khoảng trống để điều chỉnh, nhưng việc có một luật lệ như vậy đã là điều đáng sợ rồi.

Những kẻ kiêu ngạo, nghĩ rằng Phi Tiềm chỉ nói suông mà không thực hiện, thì họ sẽ phải gánh hậu quả nghiêm trọng.

Một bên là lời hứa, một bên là sức mạnh cưỡng chế; điều này khiến các gia tộc quý tộc ở Quan Trung và Tam Phụ Chi Địa buộc phải theo sự lãnh đạo của Phi Tiềm.

Hiện nay, dân số di cư, hay nói cách khác là những người làm thuê ở khu vực Quan Trung và Tam Phụ Chi Địa rất đa dạng; người dân từ các vùng khác nhau đổ về đây, với giọng nói và phong tục tập quán khác nhau. Nếu cứ để họ được phân bố một cách tùy tiện, hoặc để họ tự tổ chức tụ tập theo khu vực của mình như trong hầu hết các trường hợp, thì rất có thể sẽ xuất hiện nhiều “quốc gia trong quốc gia”, “huyện trong huyện” ở khu vực này…

Một kế hoạch hợp lý

Ngày nay, tại khu vực Quan Trung và ba vùng phụ cận, công nghiệp và thương mại phát triển mạnh mẽ, giao thương sôi động. Các ngành như trồng trọt, chăn nuôi, thủ công… đều mang lại lợi nhuận khá lớn. Thêm vào đó, sau khi việc buôn bán với Tây Vực được khai thông, lượng vàng bạc từ Tây Vực đã thúc đẩy nền kinh tế của các khu vực này, giúp những người kinh doanh trong các lĩnh vực này, dù lớn hay nhỏ, đều thu được nhiều lợi ích. Chính vì vậy, những người con của các gia tộc quý tộc mới phải tuân theo những biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt và cải tổ hành chính mà Phí Tiên áp dụng.

Chẳng hạn, gia đình Tư Mã – tại sao họ lại có danh tiếng tốt đến vậy? Không chỉ không có hành vi tham nhũng hay đòi hỏi tiền bạc, họ thậm chí còn đóng góp tiền của để hỗ trợ những người nghèo khó và sinh viên xuất thân từ gia đình nghèo khó. Là vì gia đình Tư Mã có tấm lòng rộng lớn đến mức sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để hỗ trợ cho sự nghiệp vĩ đại của Phí Tiên ư?

Không phải vậy đâu.

Dưới sự lãnh đạo của gia đình Tư Mã, họ có cửa hàng, trang trại tại Bình Dương, An Nghịch, Trường An, Lâm Kỳ… Và tại dãy núi Qilian ở Tây Vực, họ còn sở hữu quyền khai thác mỏ vàng trong một khoảng thời gian nhất định…

Gia đình Bàng thị, Hoàng thị, cùng các gia tộc quý tộc khác như Ngô thị, Đỗ thị… cũng vậy.

Nếu không phải vì lý do đó thì sao?

Ai lại nghĩ rằng chỉ cần nói suông sáo, hứa hẹn lung tung, rồi cuối năm lại tìm đủ lý do để đuổi những nhân viên đã làm việc cả năm và tuyển người mới, thì công ty đó có thể thành công được?

Trong thời kỳ hỗn loạn của Tây Liêng, nhiều gia tộc quý tộc ở Quan Trung và Hà Lạc đã di cư đi nơi khác. Nhưng khi Phí Tiên tái thiết và ổn định tình hình, rất nhiều người con của các gia tộc quý tộc lại trở về, mang theo các giấy tờ sở hữu đất đai…

Nhưng Phí Tiên đã hoàn toàn không công nhận những giấy tờ đó!

Ông ta thậm chí còn mắng nhiếc những người đã bỏ trốn, chỉ trích họ thiếu đức tính “giữ gìn đất đai”.

Những gia tộc quý tộc còn ở lại Quan Trung cũng đồng tình với lời chỉ trích của Phí Tiên. Cuối cùng, những người đó chỉ có thể rời bỏ cuộc thảo luận một cách oán giận.

Lý do tại sao những gia tộc quý tộc này lại đồng tình với Phí Tiên, chính là vì họ thực sự tin rằng “đức tính giữ gìn đất đai” là điều rất quan trọng… Không phải vậy đâu. Chỉ là những “vùng đất không chủ nhân” đó, Phí Tiên đã chiếm phần lớn, còn những gia tộc quý tộc ở lại Quan Trung thì chỉ nhận được một phần nhỏ mà thôi. Nếu phải trả lại đất đai dựa

Giống như một người nào đó… Nghi Hằng, ban đầu muốn gây rắc rối, nhưng bây giờ thì sao nhỉ…

  Ngay từ khi còn ở Yê Thành, Nghi Hằng đã tự cho mình là vị cứu tinh của thiên hạ, là người có sức mạnh chính nghĩa để giúp đỡ đất nước. Với lòng nhiệt huyết mãnh liệt và sự cố chấp, anh ta đã bị những kẻ có ý đồ xấu lợi dụng. Sau những thăng trầm ấy, anh ta cũng dần nhận ra được thực tế.

  Thực tế ấy, nói một cách đơn giản, chính là lợi ích.

  Trải nghiệm ở Yê Thành đã khiến Nghi Hằng nhận ra những điều ẩn sau vẻ bề ngoài đẹp đẽ… Anh ta tưởng mình đã chứng kiến sự xấu xa và ác độc, và vẫn giữ một thái độ coi thường mọi thứ, tin rằng mình thuộc về “dòng chảy trong sáng”.

  Nhưng khi đến Trường An, Nghi Hằng bắt đầu cảm thấy có điều gì đó không ổn…

  Sau khi đến Quan Trung, Nghi Hằng ngày càng hiểu rõ hơn về hệ thống quản lý dưới sự lãnh đạo của Phi Tiềm. Nhiều điều đã thay đổi hoàn toàn quan niệm của anh ta về các vấn đề xã hội ở Yê Thành.

  Nghi Hằng từng nghĩ rằng mọi người ở Sơn Đông đều tuân theo những giá trị đạo đức truyền thống, đều theo đuổi triết lý “không phân biệt giai cấp, cai trị bằng đức độ” của các bậc hiền triết… Nhưng thực tế ở Yê Thành đã đánh bại hoàn toàn những quan niệm ấy của anh ta.

  Và rồi, Nghi Hằng hoàn toàn bị lợi dụng…

  Anh ta tưởng rằng dù đến Trường An, mọi thứ cũng sẽ giống như ở Yê Thành… Hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn nữa… Nhưng sau khi đến đây, anh ta mới nhận ra rằng so với Sơn Đông, văn hóa ở khu vực Tây Sơn thực sự rất cởi mở…

  “Nền kinh tế quyết định cơ sở hạ tầng xã hội.” Dù Nghi Hằng không hiểu hết ý nghĩa của câu này, nhưng anh ta vẫn có thể cảm nhận được sự đúng đắn của nó.

  Người dân ở khu vực Quan Trung và Tam Phụ rõ ràng có tinh thần sôi nổi hơn, suy nghĩ cởi mở hơn, tích cực hơn và tự tin hơn nhiều. Sự tự tin này không chỉ thể hiện ở giới quý tộc mà còn ở cả những người nông dân bình thường hay những người thuê đất nữa.

  Sự sôi động trong tư duy cũng được thể hiện rõ ràng trong Chính Long Tự.

  Tất nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy…

  Chẳng hạn, trong Chính Long Tự, những người luôn nói về đạo đức và nhân từ ấy, thực ra cũng không khác gì giới quý tộc ở Sơn Đông là mấy. Nghi Hằng đã không ít lần thấy những k

Đặc biệt là những người có ngoại hình không giống người Hồ đến từ Tây Vực, họ mặc những đôi giày múa không gót, duỗi thẳng cơ thể, dùng đầu ngón chân chạm vào mặt đất và quay vòng với tốc độ rất nhanh, khiến váy của họ bay lên cao, để lộ ra…

Xung quanh sân khấu biểu diễn, nơi đó chật kín người.

Không chỉ vậy, Nghi Hằng từng nghĩ rằng tất cả mọi người ở Quan Trung đều mặc áo khoác kiểu người Hồ, có mùi hôi thối nồng nặc, và cũng giống như người Hồ, luôn sẵn sàng giết người, hung hãn và bạo lực, giống như thời kỳ Tây Lương trước đây. Nhưng sau khi đến Trường An, ông mới phát hiện ra rằng, mặc dù có những người Hồ mặc áo khoác kiểu đó, nhưng cũng có rất nhiều người trông giống người Hồ nhưng lại mặc quần áo của người Hán; thậm chí họ còn tự hào khi mặc quần áo của người Hán…

Điều này khiến Nghi Hằng cảm thấy rất suy ngẫm.

Quan Trung ngày nay đã không còn là Quan Trung của ngày xưa nữa.

Ít nhất thì không còn là Quan Trung thời kỳ Đổng Trác và Tây Lương nữa…

Có những người nhiệt tình, có những người có niềm tin, có những người cuồng nhiệt, có những người đi theo lợi ích cá nhân, có những người buộc phải chịu đựng, cũng có những người coi công việc chỉ là cách kiếm sống…

Đó chính là Quan Trung vào lúc này.

Đó chính là Chính Long Tự vào lúc này.

Nghi Hằng đi qua hành lang và thấy có khá nhiều người tụ tập trước một căn phòng lớn, liền bước tới gần hơn và nhìn vào bên trong đám đông…

Đây là phòng tranh luận trong Chính Long Tự. Tên của phòng được đặt một cách đơn giản và mạnh mẽ: “Phòng Luận Đàn”. Bên trong phòng rộng rãi và sáng sủa; ánh nắng mùa xuân chiếu xuyên qua khung cửa sổ, rơi xuống tấm thảm len hoa được may từ Tây Vực và trải dài trên nền nhà.

Ngay ở chính giữa tấm thảm len hoa, có hai người ngồi đối diện nhau.

Dưới gầm sàn phòng, cũng có rất nhiều người ngồi, đến nỗi không còn chỗ ngồi bên trong nữa; những người không tìm được chỗ ngồi thì đứng ở bên ngoài phòng.

Nghi Hằng đứng dậy và nhìn vào bên trong; một trong hai người đó ông biết, đó là Vương Xương. Người còn lại thì trẻ tuổi hơn, nhưng Nghi Hằng không nhận ra. Ông ngẩng đầu nhìn tấm biển gỗ treo bên cạnh Phòng Luận Đàn, trên đó có ghi “Họ Lư của Phạm Dương”.

“Họ Lư của Phạm Dương?” Nghi Hằng hơi ngạc nhiên, rồi chợt nhận ra điều gì đó.

Có lẽ tất cả mọi người đều bị thu hút bởi “Họ Lư của Phạm Dương” này; dù sao thì cái họ này cũng từng nổi tiếng khắp nơi trong Đại Hán triều…

Cuộc tranh luận đã bắt đ

“Đệ trai khen ngợi quá mức rồi, xin hãy nói thẳng ra đi.” Vương Xương nói.

Trước đây, Vương Xương cũng là một người giỏi tranh luận; nhưng sau khi bắt đầu sự nghiệp chính trị, ông dần ít tham gia vào các cuộc tranh luận đó hơn.

Lần này, việc ông tham gia cũng là do được Lục Dụ của họ Lục ở Phạm Dương mời gọi…

Lục Dụ là con trai út của Lư Trí.

Lư Trí có thể được coi là một học giả lớn nổi tiếng ở thời Đông Hán. Lục Dụ, với tư cách là con trai út của ông, đã đi khắp các vùng Yuzhou và Jizhou; sau đó, nhận thấy tình hình chính trị ở khu vực dưới quyền Tào Tháo rất bất ổn, ông đã quay trở về nhà ở Youzhou để tránh họa. Tuy nhiên, khi chiến tranh bùng nổ ở Youzhou, ông lại buộc phải rời đi và cuối cùng đến Quan Trung.

Lần này, ông tìm đến Vương Xương. Mặc dù trên bề mặt là để tranh luận, nhưng thực chất, mục đích chính là để nâng cao danh tiếng của mình. Và vì Vương Xương thuộc gia tộc Vương ở Thái Nguyên, mối quan hệ giữa hai gia tộc trước đây khá tốt, nên ông sẵn lòng tham gia cuộc tranh luận này với Lục Dụ.

Thắng hay thua không quan trọng; quan trọng là được bước lên sân khấu.

Lục Dụ nhìn quanh và thấy có khá đông người đã tụ tập đến, trong lòng ông cảm thấy hơi lo lắng.

Vương Xương mỉm cười và gật đầu với Lục Dụ.

Lục Dụ ho khan một tiếng rồi nói to lên: “Ngày nay, có những thương nhân buôn bán hàng hóa; họ muốn mua với giá thấp và bán với giá cao. Những người giàu có sở hữu hàng vạn vàng, đất đai rộng lớn, hàng ngàn nô lệ; họ giống như những vị vua không có chức vụ, những công tước không có tước hiệu. Trong kho của họ, lúa gạo đã hỏng; trong sân vườn của họ, quần áo lộng lẫy… Những người như vậy không trồng trọt, không sản xuất; họ có ích gì cho đất nước chứ?”

Vương Xương gật đầu và ra hiệu cho Lục Dụ tiếp tục.

Vấn đề này không chỉ do Lục Dụ đưa ra hôm nay; từ lâu trước đó, nó đã trở thành một chủ đề gây chú ý tại Chính Long Tự. Thậm chí có thể nói rằng, kể từ khi Phi Tiềm đưa “sĩ” lên vị trí ngang hàng với ba nhóm người khác, “sĩ” đã bắt đầu chỉ trích “thương”. Bởi vì việc chỉ trích “thương” là điều đúng đắn về mặt chính trị; còn nếu chỉ trích “nông công”, thì đó được coi là có vấn đề về tư duy…

Lục Dụ tiếp tục nói: “Hiện nay, Quan Trung có ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ; sứ, trà, vải, lụa, vũ khí, áo giáp, bò cừu, ngựa chiến… Để đổi lấy những thứ như sơn, sừng, keo, gỗ mè, indigo, cỏ sen, dầu thông, vỏ sò từ Sơn Đông… Tất cả những thứ đó đều là thành quả lao động vất

Một mặt, những người nông dân này phải chịu đựng hậu quả của chiến tranh; mặt khác, họ còn phải gánh vác thuế khoá và lao dịch. Tất nhiên, còn có một vấn đề khác nữa: những người nông dân Sơn Đông này cũng bị buộc phải chịu đựng những tổn thất do sự chênh lệch trong công nghiệp xuất hiện do sự phát triển kinh tế của khu vực Quan Trung và ba vùng trợ giúp liền kề.

Để duy trì cuộc sống xa hoa của mình, các gia tộc quý tộc Sơn Đông đã chuyển những khoản chênh lệch từ hoạt động thương mại sang gánh cho người nông dân bình thường, khiến họ phải chịu đựng nhiều chi phí hơn, thu nhập ít đi hơn, tiền thuê đất cao hơn, lao dịch nặng nề hơn; giá lương thực liên tục giảm, thuế khoá thì càng ngày càng tăng…

Những người có tài sản để dựa vào thì may mắn hơn một chút. Dù sao thì sự phát triển công nghiệp và thương mại ở khu vực Quan Trung cũng khiến những gia đình nông dân nhỏ ở Sơn Đông ghen tị; không ít người trong số họ đã bắt chước mô hình kinh doanh của Phí Tiềm, tổ chức sản xuất quy mô lớn, chẳng hạn như trồng cây một cách tập trung để có thể cung cấp nhiều hơn những nguyên liệu mà khu vực Quan Trung cần thiết, như cỏ gai dầu, cây indigo, dầu thông, vỏ sò…

Hơn nữa, hầu hết các thương nhân ở Sơn Đông đều nằm dưới sự kiểm soát của các gia tộc quý tộc; vì muốn thu được lợi nhuận cao hơn, những thương nhân này lại tăng giá bán một số hàng hóa và hạ giá mua nguyên liệu nông sản, từ đó tiếp tục bóc lột người nông dân dưới sự chỉ đạo của mình.

Xét từ góc độ này, sự ghét bỏ của Lục Dụ đối với các thương nhân, cũng như sự quan tâm đến nỗi khổ của người nông dân Sơn Đông, có thể coi là sự kế thừa tinh thần của cha ông mình.

Vương Xương suy nghĩ một lát rồi mới không trả lời ngay câu hỏi của Lục Dụ, mà thay vào đó hỏi lại: “Theo ý kiến của huynh đệ, chúng ta nên làm gì?”

“Nông nghiệp chính là nền tảng của đất nước, vì vậy chúng ta cần ưu tiên phát triển nông nghiệp. Trước hết, chúng ta nên cùng nhau canh tác và ăn uống; khi bận rộn, những người có khả năng nên cùng người dân canh tác; khi nông vụ rảnh rỗi, họ có thể cùng nhau dệt thảm và truyền đạt kiến thức…”

“Thứ hai, các sản phẩm cần được phân phối đều đặn. Những thứ dư thừa của mọi người nên được tập trung lại một chỗ, sau đó do những người có khả năng quản lý việc phân phát; không được tích trữ hay bán với giá khác nhau; chỉ như vậy thì mới có thể công bằng đối với mọi người…”

“Thứ ba, lợi ích từ nông nghiệp cần được chia sẻ rộng rãi cho mọi người. Nếu những người ở cấp trên thích thứ gì, thì những người ở cấp dưới chắc chắ

1/1 0%