lore

Chương 98: Công tác ở khu vực dân thiểu số (I)

9,906 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Người đứng đầu dẫn đoàn đi ra một sân trống bên ngoài làng và yêu cầu họ nghỉ ngơi ở đây. Làng Lý này hoàn toàn khác với những làng của người Lý mà mọi người đã từng thấy trong các chuyến du lịch văn hóa ở Hải Nam sau này. Đầu tiên, nó không có tường rào; từ bề ngoài nhìn vào, nó chỉ là một làng bình thường có quy mô hơi lớn mà thôi. Xung quanh làng, những cây thấp có gai mọc um tùm, xen kẽ với đủ loại dây leo và tre; không chỉ con người, ngay cả con thỏ cũng không thể thoát ra được. Đây là lần đầu tiên mọi người được chứng kiến loại “bức tường” như vậy.

Thứ hai, những ngôi nhà hình thuyền đặc trưng của người Lý mà mọi người đã học được ở các làng văn hóa dân gian cũng không hề xuất hiện ở đây. Loại nhà này được dùng để ở và nuôi gia súc ở phía trên, rất đặc trưng cho văn hóa dân tộc. Nhưng ở làng này, những ngôi nhà làm bằng rơm có hình dạng kim tự tháp mới là thông dụng. Vách nhà được làm từ những thanh tre ghép lại và trát đất lên trên, trông rất đặc biệt. Làng Nà Nam này chính là “thủ phủ” của cái đồn này.

Những “đồn Lý” ở Hải Nam thường được phân chia dựa trên địa hình tự nhiên và thường gồm nhiều làng nhỏ. Người đứng đầu mỗi đồn đều được chính quyền công nhận, giữ chức vụ theo hệ thống thừa kế, và được cấp ấn triệu và biển đồng làm bằng chứng. Những người đứng đầu đồn và các quan chức bản địa này có hai nhiệm vụ chính: một là kiểm soát người dân trong đồn, duy trì an ninh và trật tự xã hội; hai là hàng năm đóng đầy đủ các khoản thuế và “tiền riêng” do chính quyền giao phó. Tất nhiên, họ cũng có nguồn thu nhập riêng – dù là quan chức cấp cao hay thấp, chính quyền đều không trả lương cho họ; họ phải tự thu thuế từ người dân trong đồn của mình. Nói cách khác, miễn là họ đóng đầy đủ các khoản thuế và “tiền” cần thiết hàng năm, họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn trên lãnh thổ của mình, gần như giống như những “vua đất đai”.

Những người ở lại bên ngoài làng được Trương Bái Lâm quản lý; mọi người đều nghỉ ngơi một cách thoải mái nhưng vẫn cẩn thận. Lục Vinh, Văn Đức Tự và Mục Mẫn được người đứng đầu dẫn vào làng để gặp người đứng đầu đồn.

Bên trong và bên ngoài làng, có rất nhiều người dân Lý tò mò đang đứng từ xa nhìn vào. Văn Đức Tự thấy vài bà lão đang ngồi trên những tảng đá bên đường, đang làm đồ từ dây leo. Khuôn mặt họ đầy những hình vẽ màu đen, và khi họ mở miệng, phần bên trong miệng cũng màu đen sẫm, trông thực sự rất đáng sợ… Anh ta nghĩ rằng đây chính là những “bà lão giống yêu quái” trong số “

Điều này thực sự đã phá vỡ hoàn toàn những ảo tưởng mà mọi người có về phụ nữ các dân tộc thiểu số.

“Phải loại bỏ cái tục lệ này cho bằng được,” Ngụy Ái Văn lẩm bẩm. Trong kế hoạch ban đầu của anh, việc tuyển mộ binh sĩ thuộc các dân tộc thiểu số chỉ là bước đầu tiên; sau đó, anh dự định sẽ giành quyền kiểm soát đội quân thông qua vai trò chỉ huy – và điều quan trọng nhất chính là kết hôn với con gái của một thủ lĩnh dân tộc thiểu số. Trong suy nghĩ của anh, cô gái dân tộc Lê phải giống hình ảnh trong phim. Nhưng cảnh tượng trước mắt khiến kế hoạch của anh bắt đầu lung lay nghiêm trọng.

Nếu thực sự có một thủ lĩnh đồng ý gả con gái cho mình, liệu anh có nên nhận lời không? Thật là khó quyết định… Hơn nữa, ở đây, phụ nữ khi đến tuổi trưởng thành thì đã được “đánh dấu” rồi… Anh bỗng nhiên bắt đầu lo lắng về những điều không thể thực hiện được.

Lúc này, không chỉ các thủ lĩnh mà ngay cả những cô gái dân tộc Lê bình thường cũng không hề để ý đến anh. Đối với người dân dân tộc Lê, những người này được coi là những sinh vật đáng sợ: họ nghe nói rằng những khẩu súng “bột” (cách gọi của người dân địa phương đối với súng đạn) trong tay họ rất nguy hiểm, có thể bắn liên tục và giết chết người từ khoảng cách xa. Những người trốn thoát về kể lại rằng họ chỉ nghe thấy tiếng súng liên hồi, và mỗi khi có người chết, một vùng đất lớn sẽ biến thành nơi chết chóc.

Nhóm người do Lục Vinh dẫn đầu được dẫn vào một căn nhà lớn ở trung tâm làng. Ngôi nhà này cao lớn hơn so với những ngôi nhà bình thường, được xây dựng trên nền đất cao; bên trong, ngoài con đường ở giữa, ba bên đều là những chiếc giường làm từ tre, dùng để ngồi nghỉ. Lò sưởi nằm ở bức tường sau, trên đó treo những chiếc thuyền tre dùng để hun khói thức ăn. Phía bên của mái nhà có những cửa sổ, nhưng ánh sáng vẫn rất yếu; vừa bước vào, bạn sẽ cảm thấy tối om, phải một lúc sau mới quen được với ánh sáng.

Vị trưởng làng là một người đàn ông già, tóc đã bạc và khuôn mặt cũng không mấy tốt; sau này họ mới biết rằng ông ta mới chỉ hơn năm mươi tuổi, nhưng theo tiêu chuẩn của thế kỷ 17, ông ta đã được coi là một người già ở bất kỳ nơi đâu. Lục Vinh đã mang theo những món quà mà anh ta đã chuẩn bị sẵn: một chai rượu Bạch Sửu Hồng Tinh, một gói đường phèn và hai con dao gập.

Trong số ba món quà này, chai rượu Bạch Sửu Hồng Tinh đựng trong chai thủy tinh đã thu hút sự chú ý của ông trưởng nhất – rượu trắng thời Minh đã trở nên phổ biến, nhưng việc

Chủ làng không biết nhiều về những chuyện bên ngoài; ông chỉ từng đến thị trấn Lâm Cao thuộc khu vực Hán. Trong mắt ông, “quan lớn” nhất tại Quần Châu Phủ chính là viên tri huyện. Nhưng khi nghe được rằng họ không phải người Hán bản địa mà là những người Hán đến từ nước ngoài, ông cảm thấy yên tâm hơn và ra lệnh chuẩn bị rượu để tiếp đãi khách – loại rượu gạo lứt được sản xuất từ lúa Shanlan trồng bởi người Lê. Loại rượu này sau này đã phát triển thành một sản phẩm nổi tiếng địa phương có tên là “rượu Shanlan Ngọc Dịch”.

Rượu Shanlan là loại rượu được chế biến từ gạo lứt lên men, quá trình sản xuất chỉ kéo dài bảy ngày, nồng độ cồn rất thấp, tương tự như các loại rượu gạo lên men trong thời hiện đại. Ba người đều uống một bát rượu.

Với sự giúp đỡ của rượu, việc trò chuyện trở nên dễ dàng hơn nhiều, và họ cũng có cơ hội hỏi thêm nhiều thông tin về địa phương này. Chủ làng họ Chu, nhưng người này hoàn toàn không liên quan gì đến Chu Nguyên Chương; gia đình ông là những người được coi là “con cái của cây chuối”, và đã là người lãnh đạo làng này qua nhiều thế hệ. Khi cuộc nổi dậy của Ma Shi xảy ra vào thời Vạn Lịch, nhiều làng Lê ở Lâm Cao cũng tham gia vào cuộc chiến đó; chỉ riêng làng của ông thì không. Sau khi cuộc bạo loạn kết thúc, các làng lân cận được sáp nhập lại thành một làng duy nhất, và ông được bổ nhiệm làm chủ làng. Toàn bộ làng này gồm bảy làng nhỏ, với hơn hai nghìn người, là một làng lớn ở khu vực Địa phương của Lâm Cao.

Mục Mẫn hỏi về số lượng người Lê ở Lâm Cao, nhưng chủ làng họ Chu cũng không thể nói rõ được. Ngoài làng của mình, ở Lâm Cao còn có hơn mười làng Lê khác; số lượng người trong những làng này dao động từ vài trăm đến một hai nghìn người. Vượt qua núi Phan Báo và đi về phía nam sẽ đến khu vực sinh sống của người Lê “sinh”. Ngoài họ, ở gần đó còn có các làng Lê khác được gọi là làng Lê Gia Mao. Nói chung, bên trong cộng đồng người Lê cũng khá phức tạp do sự khác biệt về ngôn ngữ và phong tục sống; họ ít giao lưu với nhau và hầu như không kết hôn với những người thuộc các làng khác.

Về phía chính quyền, chủ làng họ Chu cho biết hai vị huyện lý gần đây khá dễ tính, không đặt ra nhiều yêu cầu phi lý; chỉ cần hàng năm đưa đủ số tiền theo quy định là họ sẽ không làm phiền gì thêm. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, đường xá không còn yên bình như trước, số lượng thương nhân Hán đến khu vực Lê đã giảm đi đáng kể; giá muối vốn đã cao, giờ đây còn tăng thêm nữa. Nếu các thương nhân biển có thể vận chuyển muối đến đây, họ sẵn lòng trao đổi bằng da thú, dây leo đỏ trắng, qu

Tất nhiên, vào thời cổ đại, mức độ sản xuất thấp, khả năng vận chuyển kém, và trên đường đi còn nhiều rủi ro. Việc bán hàng với giá cao và lợi nhuận lớn vẫn có thể được chấp nhận. Nhưng đối với những người như nhóm người xuyên không gian này – những người đã sở hữu khả năng sản xuất công nghiệp quy mô lớn – thì cách làm này không phù hợp. Nếu giá muối quá cao, dù lợi nhuận lớn nhưng người dân sẽ chỉ tiêu thụ muối ở mức tối thiểu để duy trì sự sống, và kết quả là họ vẫn không thể bán được nhiều muối. Ngược lại, khi giá muối giảm xuống, lượng tiêu thụ muối của người dân sẽ tăng lên ngay lập tức.

Giá muối mà ông đưa ra đã làm hài lòng Chủ tịch làng Chu Đông và các thủ lĩnh khác; giá này chỉ bằng một phần ba giá của các thương nhân nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả với mức giá này, Văn Đức Tự vẫn cảm thấy đó là một mức giá quá cao. Trong thời gian này, việc đo lường muối vẫn sử dụng “đấu” làm đơn vị đo lường; Văn Đức Tự quyết định sẽ về sau và ngay lập tức chế tạo một số dụng cụ đo lường để thông qua hoạt động thương mại mà nhanh chóng áp dụng hệ thống đo lường của nhóm người xuyên không gian này. Còn về giá của các loại vật liệu bằng sắt, vì ông vẫn chưa biết rõ tình hình thị trường gang thép thời Minh, nên ông chỉ hứa rằng giá sẽ chắc chắn thấp hơn so với giá của các thương nhân.

Sau một số cuộc thương lượng, cuối cùng họ đã đạt được thỏa thuận thương mại đầu tiên kể từ khi đến thời đại này. Thỏa thuận này được gọi là “Thỏa thuận thương mại làng Na Nam”. Theo thỏa thuận, nhóm người xuyên không gian có thể bán mọi loại hàng hóa cho làng Na Nam, nhưng mỗi lần giao dịch đều phải mang theo một lượng muối và vật liệu bằng sắt nhất định. Làng Na Nam sẽ dùng bất kỳ loại hàng hóa nào mà nhóm người xuyên không gian cần để trao đổi, nhưng không bao gồm con người.

Lần này, 80 kg muối mà họ mang theo đã được đổi lấy hơn 70 tấm da bò, da hươu, da heo rừng, 40 tấm vải Qiong Bu và một con trâu nước. Số lượng hàng hóa này khiến tất cả mọi người đều cảm thấy mình đã “thành công trong việc thương mại”; họ còn không biết rằng những thương nhân chuyên buôn bán ở vùng dân tộc Lí chỉ cần dùng 1 jin (jin cũ, tương đương 594 gam) muối thô là có thể đổi lấy hai ba chú heo.

Phía người dân Lí cũng cảm thấy họ đã thu được lợi ích: Da thú thì mỗi làng đều có rất nhiều, đối với họ đó là những thứ dễ dàng có được; còn vải Qiong Bu thì chỉ là những thứ mà phụ nữ tự dệt và tự sử dụng, không đáng giá lắm.

Chủ tịch làng còn tặng thêm 12 tấm vải Gỗ Bách. Vải Gỗ Bách là một sản phẩm nổi tiếng của Hải

1/1 0%