lore

Chương 2515: Đốt Lầu (Hai Mươi Bốn)

9,579 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Khuang Diên, chúng ta lên đường thôi.” Vị học giả gọi người hầu và bước lên một chiếc xe lừa mang tên “Khí Vĩ”.

“Đã đến rồi, công tử.”

Sau khi lên xe, vị học giả lại yêu cầu người hầu chuẩn bị bút mực; lúc này, ông đang suy nghĩ sâu sắc và đã sáng tác được một bài thơ hay.

“Công tử, xe lắc lư quá mạnh, làm sao có thể viết được cho đẹp được? Mực chắc chắn sẽ đổ ra khắp nơi đấy.” Người hầu tên Khuang Diên lẩm bẩm.

Vị học giả liếc nhìn anh ta và nói: “Công tử của ngươi có quan tâm đến những điều này không?”

Khuang Diên đành phải lấy bộ bàn ghế viết ra khỏi xe lừa lắc lư, chuẩn bị xong xuôi, rồi vị học giả bắt đầu viết:

**Quay Hương**

Năm ngoái, tôi trở về Xianyang cùng sách vở và kiếm,

Từ Lũng Nham nhìn xuống quê hương xa xôi.

Không thấy thành Tần bán viên ngọc Zhao Bì,

Chỉ nghe tin trong ngục Phong bỏ rơi thanh kiếm Qian Jiang.

Cỏ dại ở Hongdu buộc chặt áo tôi,

Hoa mai ở Dayu cười nhạo bộ dạng khách lữ.

Hôm nay, ngồi trên xe, tôi đối diện với những từ ngữ kỳ lạ,

Một góc phòng đầy bụi bặm, nơi tôi đọc sách.

Ký tên: Khuang Lỗ, năm Bǐng Zǐ

Trong thời kỳ Long Hưng của triều đại Nam Tống, gia tộc Khuang đã phải chạy trốn từ con hẻm Chuji của Nam Xiong đến định cư tại thị trấn Đại Lịch Bảo thuộc huyện Nam Hải. Chuyến đi này của Khuang Lỗ và người hầu có thể coi là một lần tái hiện cuộc “Hành Trình Dài” của tổ tiên họ. Trên đường đi, nhớ lại quá khứ khi tổ tiên họ di cư về phía nam, Khuang Lỗ không khỏi cảm thấy xúc động sâu sắc.

Nói ra thì, khi người con xa xứ trở về nhà, luôn có rất nhiều mong đợi và niềm vui. Nhưng Khuang Lỗ lại hoàn toàn không có tâm trạng như vậy.

Ngay khi bước vào Nam Xiong, nơi đó đã trở thành “quốc gia thù”. Quảng Đông – nơi gia đình ông sinh sống từ lâu – giờ đây lại thuộc về đất nước Đại Tống. Khuang Lỗ chỉ cảm thấy thật vô lý và đau lòng. Ông không biết thành phố Quảng Châu yêu dấu của mình và bạn bè, người thân của mình giờ đang ra sao…

Nam Xiong từng là nơi đóng quân của quân đội phòng thủ miền nam dưới thời Minh, đồng thời cũng là trung tâm giao thương quan trọng giữa các vùng Guangdong và Jiangxi. Các công ty du lịch như Khí Vĩ và Đại Xương đều có chi nhánh dọc theo tuyến đường thương mại Bắc Giang. Vào thời Minh, chưa có tàu thuyền hàng hóa chạy thẳng từ Nam Xiong đến Đại Lịch. Khuang Lỗ và người hầu phải thay phiên đi thuyền và đi xe, cuộc hành trình đầy gian nan. May mắn thay, toàn bộ hành trình đều được công ty du lịch Khí Vĩ tổ chức một cách chu đáo; dù đi xe hay đi thuyền, ăn ở hay nghỉ

Dù có thể thấy những ngôi nhà đổ nát dọc theo bờ sông và nhiều dấu vết của hỏa hoạn, nhưng người dân đến chợ vẫn tấp nập không ngừng, các thương nhân cũng luôn có mặt trên đường phố; cuộc sống ở đây đã gần như trở lại như xưa. Nhiều túp lều đơn sơ mới được dựng lên trên những khu đất hoang ven sông, từ xa trông giống như những làng nhỏ.

“Ngài lái thuyền ơi, những túp lều cao này là sao vậy? Trước đây tôi chưa bao giờ thấy chúng,” Khuang Lỗ hỏi người lái thuyền đang chèo mái.

Người lái thuyền chỉ vào bờ sông và nói: “Ngài đang nói đến làng Chài phải không? Nghe giọng ngài không giống người ngoại tỉnh, chắc là chưa biết đến ân huệ của Viện Nguyên lão?”

Khuang Lỗ cười buồn và nói: “Thật ra, vài năm trước tôi đã làm phật lòng quan huyện, nên phải đi lưu lạc khắp nơi. Mãi sau này khi nghe tin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây đã thay đổi, tôi mới dám trở về nhà để hiếu thảo với cha mẹ. Thực sự, tôi không hề biết những thay đổi gì đã xảy ra ở quê hương.”

Người lái thuyền nghe xong không khỏi cảm thán: “Những quan lại xấu xa của triều đình trước đây thật sự không đáng tin cậy chút nào. Ngài dám đối đầu với quyền lực, chắc chắn là một người tốt.”

“Tôi thật sự xấu hổ...” Khuang Lỗ cảm thấy hơi áy náy. Những chuyện xảy ra giữa ông và quan huyện Hoàng thực ra chỉ là do sự nóng vội và thiếu suy nghĩ mà thôi. Người họ Hoàng đó quả thực không phải là người tốt, còn ông cũng chỉ là hành động theo cảm xúc mà thôi.

“Triều đình trước đây không chỉ thu thuế cá từ chúng tôi, mà còn yêu cầu chúng tôi nộp lông vũ, màng cá, dầu cá, và cả tiền thuế khác nữa. Họ còn bắt chúng tôi phải lao động công ích. Thuế của chúng tôi nặng hơn bất kỳ ai khác, nhưng họ không cho phép chúng tôi học hành hay tham gia kỳ thi khoa cử, không cho phép chúng tôi kết hôn, không cho phép chúng tôi định cư trên bờ, và khi lên bờ thì cũng không được phép mang giày. Khi nước lớn thì cá ăn kiến, khi nước cạn thì kiến ăn cá… Chỉ có những người yếu thế như chúng tôi mới là nạn nhân của sự bạo ngược…” Người lái thuyền kể về những khó khăn trong cuộc sống của mình, nhưng không hiểu sao, trong mắt anh ta lại lại lóe lên ánh sáng hy vọng: “Khi Viện Nguyên lão xuất hiện, họ đã ban hành sắc lệnh, tuyên bố rằng mọi người dưới triều đại Đại Song đều bình đẳng, và hủy bỏ hoàn toàn danh sách người hạ cấp của triều đình trước đây. Họ còn miễn cho chúng tôi nhiều loại thuế, cho phép chúng tôi định cư trên bờ, học hành, nhập ngũ hoặc tham gia kỳ thi

Người lái thuyền cười nói: “Làm sao mà chưa từng trải qua chứ! Thật lòng mà nói với ngài: Ba năm trước, có người lên thuyền của tôi và hỏi tôi rằng ‘Nếu có người bảo các bạn lên bờ xây nhà, sống như người trên đất liền, lập gia đình, làm ăn sinh tồn như họ, các bạn sẽ ủng hộ không?’ Tôi trả lời rằng ‘Tôi không hiểu cái gọi là ủng hộ là gì; tôi chỉ biết rằng nếu có những quan chức như vậy, thì tôi sẽ tuân theo mọi lệnh của họ.’ Sau đó, khi các cấp trên tiến vào Vũ Châu để tuyển mộ người lái thuyền, tôi đã dẫn theo mười mấy người anh em đi chở lương thực cho họ.”

“Ồ, tại sao lại không tranh được một chức vụ gì đó chứ?”

“Ngài đùa thôi… Tôi đã ngoài sáu mươi tuổi rồi, chẳng biết chữ nào cả; việc học cũng không thể nào thành công được nữa. Chúng tôi sống trên mặt nước suốt nhiều năm, cơ thể luôn đầy bệnh tật. Mỗi khi trời mưa, tất cả các khớp xương đều đau nhức; lại phải cúi người sống trong những chiếc thuyền chật hẹp này hàng ngày, lưng cũng bị gù đi… Đừng nói đến chuyện làm quan hay làm công việc gì khác, chúng tôi thực sự không đủ khả năng để làm những việc đó.”

Bộ quần áo của người lái thuyền đều đầy vá; mái mũ của ông bạc phai ở hai bên thái dương; những nếp nhăn trên khuôn mặt ông giống như những vết thương do thời gian để lại. Khi bắt đầu kể chuyện, ông tuôn ra tất cả những điều mình đã trải qua: “Chúng tôi, những người dân sống trên thuyền, thường bị mọi người coi thường. Tôi mãi đến hơn năm mươi tuổi mới lập gia đình; vợ tôi cũng là người dân sống trên thuyền, góa chồng sau đó mới cưới tôi. Tôi nghĩ rằng cô ấy trẻ hơn tôi hơn mười tuổi, nên tôi sẽ có thể dựa vào cô ấy cho đến cuối đời… Nhưng không ngờ cô ấy lại qua đời trước tôi! Tôi không thể chứng kiến những ngày tháng tiếp theo… Cô ấy là một người phụ nữ tốt bụng lắm; cô ấy luôn sẵn lòng làm mọi việc từ việc giặt giũ, nấu ăn cho đến việc đi câu cá, vận chuyển hàng hóa… Những lỗ hổng trên bộ quần áo của tôi đều do cô ấy vá lại… Nếu không có cô ấy, tôi chắc chắn sẽ phải mặc những bộ quần áo rách rưới… Tôi nghĩ rằng chắc chắn cô ấy đã nợ tôi một ân nghiệp ở kiếp trước, và kiếp này mới đến trả nợ… Cô ấy cũng từng nói như vậy… Nhưng tại sao cô ấy lại qua đời chỉ sau vài năm? Khi cô ấy mất, linh hồn tôi cứ như thể bị mất đi… Nhiều lần tôi suýt nữa lao xuống sông và chết đuối…”

Một làn gió lạnh thổi qua, khiến khóe mắt

“Được thôi, ngài quả là một người chân thành và hào phóng. Không xa nữa là làng của chúng tôi; để tôi lên bờ tìm mua một đôi giấy đỏ nhé.” Người lái thuyền nói rồi tiếp tục đi về phía làng Xianjia.

“Tốt lắm, tôi cũng đang muốn mua một số đồ khô cá mòi.”

“Tôi không có nhiều tiền, nhưng những thứ này thì dễ tìm lắm. Nếu ngài thích, tôi sẽ mua cho ngài!”

Kuang Yan lén kéo gấu áo của Kuang Lu, ý báo rằng anh ta sợ ăn món mì bánh mì. Kuang Lu vỗ vai anh ta và nói nhỏ: “Không sao đâu, công tử tôi thông thạo cả sáu nghệ thuật, vừa giỏi văn vừa giỏi võ; người bình thường làm sao có thể đối phó được với tôi? Chúng ta đã vào sông Fenjiang rồi, không xa Đại Lị nữa đâu. Tôi nghe nói có một nhóm người Úc đang ở Đại Lị, và trên sông này thường xuyên có các tàu tuần tra của họ; đây không phải là nơi không có luật pháp đâu. Cũng là dịp tốt để xem thử xem dưới sự cai trị của người Úc, cuộc sống ở đây sẽ yên bình đến mức nào.”

“Công tử, ngài muốn viết câu đối gì để tặng họ nhỉ?”

“Mùa đông qua, mùa xuân đến; mừng chào bốn phương, từ biệt năm cũ. Gian khổ kết thúc, niềm vui đến; mong rằng sông hồ, dòng sông sẽ chúc mừng sự tái sinh. Dòng chữ trên: Giang Sơn tuyệt vời.” Kuang Lu nhấn mạnh bốn chữ cuối cùng.

“Công tử có ghét Tướng Quan Xiong vì ông ấy đã làm mất đi Giang Sơn tuyệt vời này không?”

Kuang Lu không nói gì; liệu có phải do Tướng Quan Xiong đã làm mất nó không?

Lúc này, người lái thuyền bắt đầu hát một bài hát về cuộc sống hàng ngày trên sông:

“Ba đống bùn xây nên một cái bếp; nồi cát nấu cơm không có lửa… Hũ gạo không còn gạo thừa từ đêm hôm trước; cái hố bếp không có củi để đốt! Người ta khi gả con gái có cái lồng đỏ, còn chúng tôi thì chỉ có cái lồng rách nát; người ta khi gả con gái có kiệu hoa để đi, còn chúng tôi thì chỉ có chiếc thuyền để vượt sông… Trên có thuyền quý, dưới có thuyền nhỏ; không có anh em thì chỉ có một chiếc thuyền nhỏ bé và cô đơn thôi… Dùng dây và nan để buộc đồ đạc; đầu lắc lư, đuôi vẫy vẫy, giống như con rồng sống trong đại dương sâu… Thầy chủ nhà thuyền lại không làm kín thuyền để nước không tràn ra… Vợ anh ta ban đêm ngủ mà thấy cá bơi qua… Thầy chủ nhà thuyền lại không lót lá để che mái thuyền; vợ anh ta ban đêm ngủ mà thấy bầu trời đầy sao…”

Lời bài hát buồn bã, người hát thì tràn đầy hứng khởi; chiếc thuyền nhỏ tiếp tục lướt nhanh trên mặt sông. Chưa đến bờ, đã có người hô lên: “Chú Cá Mòi ơi, Hiệu tr

1/1 0%