lore

Chương 932: Từ những người cao cấp đến những kẻ đánh chó

9,600 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Con tàu Hải Thiên đã ở lại Cao Xiong trong ba ngày nhưng không gặp được những người bản địa sẵn lòng dẫn đường như họ mong đợi. Vì thời gian có hạn, Lý Tử Bình không tiếp tục ở lại lâu hơn nữa mà cho con tàu cập bến và tiếp tục hành trình về phía bắc.

Sau một ngày đi biển, vào buổi tối hôm đó, con tàu Hải Thiên đã dừng chân cách bắc đảo Đài Loan khoảng 68 hải lý, tại đảo Phúc Kiến Hải Đàn. Đảo Hải Đàn là hòn đảo lớn thứ năm của Trung Quốc, dài khoảng 27 km theo hướng nam-bắc và khoảng 18 km theo hướng đông-tây, với diện tích 309 km².

Theo thông tin từ Thư viện Đại học, đảo Hải Đàn đã được khai phá từ thời nhà Song, và điều đáng ngạc nhiên hơn là vào thời đó, người ta đã thiết lập các trang trại chăn nuôi ngựa tại đây. Điều này cho thấy rằng khí hậu và đất đai ở đây rất thích hợp để ngựa sinh sống và phát triển.

Vào thời nhà Minh, đảo Hải Đàn đã có khoảng bốn năm mươi nghìn người sinh sống, và về quy mô thì nó còn lớn hơn cả đảo Nam Áo mà họ đã qua. Con tàu Hải Thiên đã dành hai ngày để khảo sát đảo này. Giống như khi họ ở đảo Nam Áo, ngay khi họ đổ bộ lên đảo, quân và dân địa phương đều giữ thái độ cảnh giác cao độ, nhưng không ai cố gắng đuổi đánh hay tiêu diệt họ. Họ tự do đi lang thang trên đảo.

Ngày 2 tháng 6, con tàu Hải Thiên đã vào vịnh Hàng Châu và cập bến gần Hải Ninh. Sáng hôm sau, Lý Tử Bình chỉ huy con tàu tiến gần cửa Bạch Tử Môn, chuẩn bị vào sông Tiền Đường. Theo kế hoạch, hải quân yêu cầu con tàu Hải Thiên khảo sát lộ trình hàng hải trong sông Tiền Đường, để các tàu chiến của hải quân có thể trực tiếp đi vào sông khi cần thiết.

Lịch sử cho thấy lộ trình chính của con sông Tiền Đường đã trải qua nhiều lần thay đổi. Sự thay đổi lớn nhất xảy ra vào thời nhà Minh và nhà Thanh, được gọi là “ba lần thay đổi cửa khẩu”. Trong lịch sử, giữa núi Khán Sơn ở bờ nam và Hải Ninh ở bờ bắc, đã có ba lối vào biển, được gọi là “ba cửa khẩu”: lối giữa núi Khán Sơn và núi Triệt Sơn rộng khoảng 6,2 km, được gọi là cửa khẩu Nam Đại Môn; hai ngọn núi này đối diện nhau như hai cánh cửa, được gọi là Hải Môn; bên cạnh núi Khán Sơn có một ngọn núi nhỏ hình dạng giống con rùa, nằm ngay trong khu vực Hải Môn, vì vậy nó còn được gọi là cửa Bạch Tử Môn; lối giữa núi Triệt Sơn và núi Hà Trang Sơn rộng khoảng 1,7 km, được gọi là cửa khẩu Trung Nhỏ Môn; lối giữa núi Hà Trang Sơn và đê biển Hải Ninh ở bờ bắc rộng khoảng 10,5 km, được gọi là cửa khẩu Bắc Đại Môn. Quá trình thay đổi lộ trình chính của con sông đã trải qua ba giai đo

Vì vậy, Lý Tử Bình rất thận trọng. Khi tiến gần đến cửa biển Bạch Tử Môn, ông đã lệnh cho toàn bộ con tàu vào tình trạng cảnh giác cao độ, đồng thời hạ xuống tất cả các thuyền nhỏ và xuồng phụ trợ để sử dụng. Các thuyền nhỏ đi trước để đo đạc thủy triều và dẫn đường, trong khi các xuồng phụ trợ đi quanh để bảo vệ con tàu trong quá trình di chuyển. Ông cũng cẩn thận kiểm soát áp suất hơi nước trong lò hơi – dòng nước ở cửa biển rất khó lường, thông tin thủy văn không đầy đủ, và nếu không có đủ sức mạnh di chuyển, con tàu rất dễ bị mắc cạn hoặc va vào đá ngầm.

Dựa trên thông tin do việc trinh sát và thu thập được: tại cửa biển Bạch Tử Môn có sự hiện diện của Quân Minh, cùng với các pháo đài và khẩu đại bác. Sự xuất hiện đột ngột của con tàu Hải Thiên đã gây ra một cuộc báo động lớn xung quanh khu vực này. Nhưng giống như những tình huống trước đó, không có chiếc tàu nào của Hải quân Quân Minh xuất hiện để đuổi đánh họ. Rõ ràng, Quân Minh rất coi chừng những con tàu kiểu châu Âu như Hải Thiên; sau nhiều năm giao dịch với những tên cướp biển và thương nhân châu Âu, họ biết rằng sức mạnh hỏa lực của những con tàu này vượt trội hơn nhiều so với các tàu của Hải quân Quân Minh đã xuống cấp sau nhiều năm sử dụng. Vì vậy, họ áp dụng chính sách “ứng biến linh hoạt với tình hình thay đổi”, chỉ cố gắng bảo vệ các pháo đài mà không hề ra tay tấn công.

Tiền Thủy Hiệp dẫn đầu đội nhỏ tiến hành cuộc đổ bộ thăm dò. Sau khi đi sâu vào bờ biển khoảng hai kilômét, các làng mạc dọc theo bờ biển đều đã trống rỗng không còn ai.

“Họ chạy trốn rất nhanh…” Tiền Thủy Hiệp cảm thấy thất vọng; ban đầu ông hy vọng có thể bắt giữ vài người để thu thuế “hợp lý”, nhưng kết quả lại là không còn ai ở trong làng cả; có thể thấy họ đã rời đi một cách vội vã, thậm chí không mang theo cả lợn, gà hay vịt.

Liễu Chính đề nghị: “Sao chúng ta không bắt vài con gà về…?” Sau khi lênh đênh trên biển quá lâu, họ chỉ ăn những thức ăn từ cỏ dại; ngoại trừ đôi khi gặp được những ngư dân bán rau củ và trứng gà cho họ, họ đã lâu lắm không được ăn thịt tươi mới nữa. Nếu có vài con gà tươi ngon, chắc chắn sẽ rất ngon miệng.

“Như vậy thì chúng ta sẽ trở thành những kẻ xấu giống như bọn Nhật Bản đấy.” Tiền Thủy Hiệp lắc đầu; đó là hành động vi phạm kỷ luật. Việc thu thuế “hợp lý” là có chính sách và thủ tục cụ thể; nếu họ tự ý lấy đồ vật của người dân, đó chính là hành vi trộm cắp, và tính chất của hành động đó rất nghiêm trọng.

Đội nh

Tiền Thủy Hiệp biết rằng kẻ thù rõ ràng đang chuẩn bị truy đuổi họ.

Hiện tại, việc cạnh tranh về tốc độ chạy với chúng là điều không khôn ngoan. Khoảng cách đến bờ biển vẫn còn khoảng 3 km, và dù chạy hết sức nhanh thì cũng mất ít nhất mười mấy phút. Các thành viên trong đoàn thám hiểm còn phải mang theo những thiết bị đo đạc nặng nề; nếu chạy bỏ mặc chúng, chắc chắn họ sẽ mất đi vũ khí và trang thiết bị cần thiết.

Anh quan sát địa hình xung quanh và thấy bên ngoài góc đường có một ngọn đồi nhỏ cao khoảng năm sáu mét, cây cối um tùm; phía dưới sườn đồi có một con suối với nhiều bụi rậm, rất thuận lợi cho việc ẩn náu và rút lui.

Nếu tiến hành phục kích tại góc đường này, khi kẻ thù bị tấn công từ một phía, chúng sẽ vô thức chạy về phía bên kia đường theo cùng hướng. Như vậy, những người phục kích chỉ cần duy trì góc bắn ban đầu là có thể tập trung tấn công chúng từ phía sau.

Tiền Thủy Hiệp lập tức thảo luận với Liễu Chính và quyết định rằng nửa đội sẽ hộ tống đoàn thám hiểm tiếp tục rút lui, trong khi anh sẽ dẫn một đội để chặn hậu quân của kẻ thù.

“Hãy cẩn thận nhé, đừng để bị kẻ địch bao vây đấy,” Liễu Chính cảnh báo.

Tiền Thủy Hiệp gật đầu: “Không sao đâu, khu vực này có tầm nhìn rất tốt; những hành động vòng qua vòng lại của chúng chắc chắn không thể lừa được tôi. Tôi sẽ dẫn người ta tấn công mạnh mẽ ở đây, và khi kẻ thù rút lui, tôi sẽ nhanh chóng theo sau. Trên đường đi, bạn hãy gọi chiếc tàu Hải Thiên đến hỗ trợ bạn.”

“Được rồi, hãy cẩn thận nhé.” Liễu Chính biết rằng lúc này không phải là lúc để nói những lời vô nghĩa, rồi anh cùng đội người rời đi.

“Súng máy!” Anh hét lên, và ngay lập tức, người lính sử dụng khẩu súng trường tự động M77B1 đã được lắp thêm giá đỡ hai chân xuất hiện.

“Bạn hãy lên đỉnh đồi, khi tôi bắn, bạn sẽ tiếp tục nổ súng,” Tiền Thủy Hiệp chỉ đạo. “Trước hết, hãy bắn loạt đạn vào phía trước đội quân địch, sau đó chuyển sang bắn vào phía sau họ bằng những loạt đạn ngắn.”

“Rõ rồi, thưa sĩ quan.”

Anh cũng chỉ định một người lính có thành tích ném lựu giỏi nhất làm phụ tá cho người sử dụng súng máy, và yêu cầu các binh sĩ khác cung cấp cho anh mười quả lựu đạn. Xạ thủ bắn tỉa cũng được điều động lên đồi. Vì đội quân địch gồm những người dân quân không có đội hình rõ ràng, nên xạ thủ bắn tỉa không cần phải tập trung

Tay súng bắn tỉa cẩn thận lắp ống ngắm đơn giản vào khẩu súng Mosin-Nagant của mình, sau đó kiểm tra lại những viên đạn bên trong nòng súng một lần cuối cùng.

“Người ném lựu đạn” mở hết nắp tất cả các quả lựu đạn, xé bỏ lớp giấy dầu chống ẩm để lộ ra dây kéo. Anh ta nhìn kỹ con đường đất phía trước, suy đoán xem khoảng cách xa nhất mà mình có thể ném lựu đến là bao nhiêu, rồi đứng dậy vẽ vời một cái để xem liệu có cành cây hay bụi rậm nào cản trở việc ném lựu không.

Vương Gia Thiện cõng một khẩu súng săn chim, lẫn lộn đi theo đoàn người lớn.

Ánh nắng mặt trời chiếu lên người Vương Gia Thiện, ấm áp. Một cánh tay và nửa bờ vai của anh ta lộ ra ngoài qua chiếc áo khoác rách rưới. Chiếc áo khoác đã không còn thể nhận biết được màu sắc ban đầu nữa, chỉ còn lủng lỗ treo trên người, được buộc lại bằng dây cỏ một cách vội vã mới gắn bó được với thân người.

Đôi chân của anh ta trần trụi, đi đôi dép cỏ. Nếu không phải vì chiếc mũ da rách rưới trên đầu, khẩu súng săn chim trên lưng và túi da chứa đầy đạn súng, thì anh ta hoàn toàn giống như những kẻ ăn xin bình thường ở địa phương.

Vương Gia Thiện là một gia đình quân nhân thuộc huyện Hải Môn. Mặc dù hệ thống quân đội của triều đại Minh đã suy tàn từ lâu, nhưng mỗi huyện vẫn còn một số binh sĩ được huấn luyện thường xuyên. Vương Gia Thiện chính là một trong những “binh sĩ huấn luyện” đó.

Là một binh sĩ huấn luyện, anh ta thỉnh thoảng được nhận một ít lương thực, và không cần phải làm việc trồng trọt cho các sĩ quan chỉ huy hay các cấp trên cả ngày.

Phía trước Vương Gia Thiện là hàng xóm của anh – Lý Thiện Dân, một người đàn ông trung niên luôn có vẻ mặt u ám. Ông có bảy người con, từ con cả đến con út. Ngay cả những đứa trẻ còn biết đi cũng đều đi làm thuê, nhưng lương thực thì luôn không đủ ăn. Con trai cả của Lý Thiện Dân, Lý Đại Dân, mặc đồ rách rưới, cõng một khẩu súng gỗ, đi phía trước với vẻ hào hứng, như thể đang đi dạo vui chơi vậy.

So với những gia đình quân nhân yếu đuối, những người lính dân quân thì trông còn gọn gàng hơn, toàn là những người trẻ tuổi khỏe mạnh. Tinh thần chiến đấu của họ cũng rất tốt. Họ là những người được huấn luyện từ các làng xung quanh, do một phó chỉ huy dẫn dắt, cùng với quân đội chính quy đi đuổi đuổi những “bọn cướp biển”.

Vùng ven biển Chiết Giang trước đây từng là nơi bọn cướp Nhật Bản hoành hành mạnh mẽ. Sau khi những kẻ cướp này gần như biến mất, chúng bị thay thế bởi “bọn cướp biển”. Tuy nhiên, vào thời đại Minh, Chiết

1/1 0%