lore

Chương 2633: Rắc rối phát sinh ngoài dự kiến

9,746 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lương Tâm Hổ nghĩ rằng mình dù sao cũng là người học vấn, thật sự “nói ra là thành câu”. Chỉ với mười hai từ đã giải thích rõ ràng những lợi ích của việc này, ông liền nói tiếp: “Thầy nói rất đúng, từ xưa đến nay, pháp luật không hề khoan dung; từng chữ, từng câu đều liên quan trực tiếp đến sinh mạng và tài sản của người dân. Vì vậy, ngoài việc xét xử thông thường, các bậc tiền bối trong lĩnh vực y học còn có quy định ‘xem xét lại khác biệt’.”

Trương Gia Ngọc lập tức bày tỏ sự hứng thú: “Xin ngài chỉ giáo thêm!”

Lương Tâm Hổ giải thích rằng “xem xét lại khác biệt” là một hệ thống tư pháp được áp dụng vào thời đại Nhà Tống. “Xem xét lại” có nghĩa là thay đổi lời khai ban đầu; “xem xét lại khác biệt” có nghĩa là tiến hành xét xử lại một cách riêng biệt. Khi bị cáo trong các vụ án hình sự thời Tống bị thẩm vấn, bị tuyên án hoặc chuẩn bị bị hành quyết, họ đều có quyền kháng cáo và yêu cầu xem xét lại. Mỗi khi có việc kháng cáo, vụ án sẽ tự động đi vào quy trình xét xử lại.

Về bản chất, “xem xét lại khác biệt” chính là một cơ chế tư pháp cho phép người bị cáo kháng cáo một cách tự động. Mỗi lần người bị cáo kháng cáo, đều phải có thẩm phán khác tiến hành xét xử lại, điều này gây ra sự lãng phí nguồn lực tư pháp đáng kể và làm chậm quá trình xét xử.

“…Tất nhiên, cũng có một số kẻ phạm tội lợi dụng cơ chế này, liên tục kháng cáo, khiến vụ án phải được xét xử lại nhiều lần, không hồi kết. Để tránh tình trạng lãng phí nguồn lực tư pháp như vậy, cần phải tìm ra sự cân bằng giữa công bằng tư pháp và hiệu quả xét xử…”

Người ta thời Tống đã nghĩ ra cách giải quyết này, đó là đặt ra giới hạn về số lần kháng cáo. Thời Bắc Tống, quy định “ba lần kháng cáo”, tức là bị cáo có ba cơ hội kháng cáo; sau ba lần kháng cáo, nếu họ vẫn khẳng định mình vô tội, việc kháng cáo sẽ không được xem xét nữa. Đến thời Nam Tống, quy định được thay đổi thành “năm lần kháng cáo”.

Đáng tiếc, sau thời đại Nguyên, hệ thống này đã hoàn toàn biến mất. Thời Minh Thanh, mặc dù vẫn có những trường hợp kháng cáo ngay tại hiện trường hoặc kháng cáo lên cấp cao hơn, nhưng hoặc là do những điều kiện khắt khe, hoặc là quyền quyết định xét xử lại nằm trong tay quan viên chủ tịch thẩm. Việc kháng cáo trở thành một hành động đầy rủi ro mà không chắc chắn mang lại lợi ích gì; trừ khi người đó phải chịu đựng những oan ức lớn lao, còn không thì rất ít ai dám thử.

Trương Gia Ngọc l

Do đó, Trương Gia Ngọc chỉ đề cập sơ qua đến vấn đề này mà thôi, hiếm khi đi sâu vào các chi tiết thực tế, chưa kể đến những lý thuyết pháp lý.

Khóa học của Lương Tâm Hổ kết thúc vào giờ trưa. Sau bữa trưa đơn giản, lúc 1 giờ chiều, công việc xét xử ngày đầu tiên của tòa án lưu động đã bắt đầu. Trương Gia Ngọc cũng cùng mọi người đến tòa án để theo dõi phiên tòa.

“Tòa án lưu động” được tổ chức tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương. Ở những nơi có điều kiện thuận lợi, tòa án thường được tổ chức trong các đền thờ, miếu mạo hoặc các tòa nhà rộng lớn; còn ở những nơi không có điều kiện, việc tổ chức tòa án ngay tại sân vườn hay sân khấu cũng là điều thường gặp.

Ở Khuất Giang, có khá nhiều tòa nhà lớn có thể sử dụng. Tuy nhiên, để mở rộng ảnh hưởng của việc tuyên truyền pháp luật và cho nhiều người dân hơn có cơ hội được theo dõi các phiên tòa, Lương Tâm Hổ cố gắng chọn những địa điểm ngoài trời rộng rãi hơn nếu điều kiện cho phép.

Phiên tòa hôm nay được tổ chức tại một sân gạo ở Khuất Giang. Ở giữa sân, người ta đã dựng một bục đất làm nơi diễn ra phiên tòa, và xung quanh được bao quanh bằng hàng rào gỗ. Một đội binh sĩ Quốc dân quân đã thiết lập hàng rào an ninh dọc theo hàng rào gỗ, ngăn cách người dân không cho vào bên trong.

Trên sân trống, một số cột gỗ đã được dựng lên, và trên đó được gắn các loa có dây.

Khi vụ án ma thuật xảy ra, Trương Gia Ngọc cũng đã đến theo dõi phiên tòa và tham gia vào không khí hối hả của cuộc họp đó. Vụ án này liên quan đến rất nhiều người và có quy mô rất lớn, có thể được coi là “vụ án lớn nhất phía nam”. Lúc đó, có rất đông người đến theo dõi phiên tòa, đến nỗi các con đường ở Thành phố Quảng Châu trở nên vắng vẻ không một bóng người. Chính quyền thành phố buộc phải sử dụng nhiều binh sĩ Quốc dân quân để duy trì trật tự. Dù Trương Gia Ngọc đã dùng nhiều mối quan hệ nhưng vẫn không thể vào được tòa án để nghe phiên tòa, mà chỉ có thể nghe quá trình thẩm vấn qua những chiếc loa đó.

Hôm nay, phiên tòa lưu động cũng lại đông nghịt người – đối với những người dân ở vùng nông thôn không có nhiều hoạt động giải trí, việc theo dõi các phiên tòa chính là một hình thức giải trí. May mắn thay, lần này Trương Gia Ngọc mang danh nghĩa là “khách mời”, vì vậy không chỉ cô có thể vào bên trong hàng rào mà còn có chỗ ngồi riêng.

Khi mọi người lần lượt vào tòa án và ngồi xuống ghế theo dõi, Trương Gia Ngọc nhìn thấy các bên liên quan đến vụ án này đã đến đủ. Nhìn thoáng qua

Thẩm phán chính Lương Tâm Hổ bước ra từ một chiếc lều bên cạnh ghế thẩm phán chính. Ông đội mũ hình thú Xiezhi trên đầu, mặc áo choàng pháp luật màu đen, đi giày da màu đen loại A do tàu Lan Độ cung cấp, tỏa ra vẻ oai nghiêm và uy nghiêm.

Mũ hình thú Xiezhi này còn được gọi là mũ pháp luật hoặc mũ sắt. Theo ghi chép, nó được Vua Văn của nước Chu chế tạo ra để các quan chức thực thi pháp luật đội, vì vậy mới có tên là mũ pháp luật. Trên mũ có những họa tiết tượng trưng cho sừng của con thú Xiezhi – một sinh vật thần thoại trong cổ đại. Người ta tin rằng sừng trên đầu nó có khả năng phân biệt đúng sai một cách chính xác. Vì vậy, Hiệp hội Pháp luật đã chọn nó làm trang phục cho các thẩm phán.

Chiếc mũ này thuộc về kiểu trang phục cổ đại; không chỉ người dân bình thường mà ngay cả những người học vấn thông thường cũng ít ai biết đến nó, họ còn tưởng đó là “hệ thống trang phục mới” nào đó. Nhưng Trương Gia Ngọc, người am hiểu rộng rãi và đọc sách nhiều, thì tự nhiên biết về nó. Tuy nhiên, trang phục áo choàng pháp luật này khiến ông thực sự không hiểu nó thuộc về triều đại nào.

Lương Tâm Hổ cầm cái búa pháp luật lên và đập mạnh xuống: “Bắt đầu phiên tòa! Vụ án đầu tiên!”

Cảnh sát pháp luật lập tức đưa hai bên đương sự vào tòa án và theo thủ tục thông thường, họ được hỏi về tên tuổi, độ tuổi, địa chỉ gia đình và những thông tin cơ bản khác.

Hóa ra, cả hai người này đều sống và làm ăn ở Kinh Châu. Bị cáo là ông Châu, chủ của một quán trọ nhỏ ở con phố trước. Quán trọ không lớn lắm, chỉ có khoảng bảy hay tám phòng, chủ yếu cho thuê cho những thương nhân nhỏ và thợ thủ công sống ở Kinh Châu.

Người khởi kiện là khách thuê nhà của ông Châu, tên là Trần Tam Lực, một thương nhân nhỏ, sống bằng nghề bán đồ dùng câu cá ở Kinh Châu. Nhìn vào việc kinh doanh của họ, đó đều là những công việc nhỏ bé, không liên quan đến những vấn đề lớn lao. Trương Gia Ngọc tự hỏi: Tại sao những người buôn bán nhỏ như vậy lại cần phải đem chuyện ra tòa án?

Sau khi hỏi xong những thông tin cơ bản, cả hai bên lần lượt trình bày lý do và lời kháng cáo của mình. Lúc này, Trương Gia Ngọc mới hiểu rõ nội dung vụ án: Trần Tam Lực đã ký hợp đồng thuê nhà với ông Châu trong ba năm, và mọi chuyện ban đầu diễn ra tốt đẹp. Nhưng sau khi người Úc đến đây, tình hình ở vùng quê trở nên hỗn loạn. Lo lắng rằng an ninh ở đây sẽ ảnh hưởng đến người dân bình thường, Trần Tam Lực đã vội vàng mang đồ đạc chạy trốn vào ban đêm.

Anh ta đã đi xa như vậy suốt nửa n

Cả hai bên đều cho rằng mình có lý, tranh cãi không ngừng và cuối cùng vấn đề đã kéo dài đến tận bây giờ. Một vụ tranh chấp vốn có thể được giải quyết tự nhiên ở cộng đồng dân gian, nhưng sau vài năm, nó đã trở thành một hành động mang tính cảm xúc, không còn chỉ là vấn đề tiền bạc nữa. Cuối cùng, Chen Sanli quyết định khởi kiện Zhang Cái.

Phiên tòa diễn ra rất chậm. Những người buôn bán ở chợ không giống như nông dân ở nông thôn; do phải giao tiếp nhiều hơn với mọi người, họ nói chuyện khá trôi chảy. Tuy nhiên, cả hai bên trong vụ án này – một người buôn nhỏ và một chủ cửa hàng nhỏ đang gặp khó khăn – đều không được giáo dục bài bản, nên lập luận của họ thường rất mơ hồ; cùng một câu hỏi phải được đặt đi đặt lại nhiều lần mới nhận được câu trả lời.

“Bị cáo, phía bạn cho rằng khi nguyên đơn rời khỏi Quảng Châu, phía bạn có thể thu hồi căn nhà, liệu có cơ sở nào để chứng minh điều đó không?”

“Thưa quan tòa, đó chính là quy tắc thông thường ở con phố này,” Zhang Cái trả lời. “Anh ta đơn giản là bỏ đi mà không hề liên lạc gì trong suốt gần mười tháng; làm sao tôi biết anh ta sống hay đã chết…”

“Ngay cả khi anh ta đã chết, tôi vẫn đã trả tiền! Bạn phải giữ lại căn nhà cho tôi ít nhất ba năm!” Chen Sanli nổi giận dữ.

“Yên lặng, đừng vô cớ can thiệp vào cuộc thẩm vấn!” Cảnh sát tòa cảnh báo.

Tiếp theo, Lương Tâm Hổ hỏi nguyên đơn Chen Sanli, và người này cũng cho biết mình chưa bao giờ nghe nói đến quy tắc đó.

Sau đó, Lương Tâm Hổ triệu tập một số nhân chứng, bao gồm cả hai người mà các bên đã đề xuất, cũng như một số người từ hiệp hội thương mại địa phương; tất cả họ đều đưa ra những lời khai liên quan. Về việc người thuê nhà bỏ đi mà không báo trước, liệu hợp đồng thuê nhà có được coi là đã được thực hiện hay chưa, các nhân chứng đều có những quan điểm khác nhau. Thực ra, Lương Tâm Hổ không quá quan tâm đến việc có tồn tại quy tắc đó hay không; bởi vì đối với loại vụ án này, Luật của Viện Nguyên lão đã có quy định rõ ràng, và việc áp dụng trực tiếp các quy định đó là hoàn toàn khả thi. Lúc này, ông chỉ muốn cho các học viên trong nhóm nghiên cứu thấy cách thức thực hiện quy trình xét xử một cách đúng đắn mà thôi.

Khung cảnh phiên tòa rất u ám; Trương Gia Ngọc không khỏi thầm ngáp. Một vụ án nhỏ nhặt như thế này mà Viện Nguyên lão cũng phải tự mình xét xử, quan điểm của những người Úc thật sự rất khó hiểu.

Giai đoạn chất vấn kết thúc, nhưng Lương Tâm Hổ không tuyên bố nghỉ giải lao – đối với loại vụ án này, không cần phải thảo luận chung hay điều giải

1/1 0%