lore

Chương 858: Chợ trong thành phố Hàng Châu

9,784 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sau khi gặp những người hầu mới gia nhập, Triệu Dẫn Cung đã bắt đầu suy nghĩ kỹ lưỡng – xét về nguồn lực hiện có của mình, việc trực tiếp can thiệp vào quá trình lưu thông tơ và kén tằm là điều không khả thi. Vốn đầu tư của anh ta có hạn, và trong thời gian đầu, công ty De Long cũng chưa ổn định tại địa phương, nên chắc chắn không thể huy động được nhiều vốn. Những nhà tài phiệt ở miền Nam sẽ khó đối phó hơn nhiều so với những người ở Leizhou; họ không chỉ có vốn lớn mà còn có sự hậu thuẫn của nhiều quan lại giàu có và có quyền lực. Tình hình này khó khăn hơn rất nhiều so với việc hoạt động tại Leizhou hay Quảng Châu; anh ta không thể trực tiếp xâm phạm lợi ích của những người có quyền lực địa phương, nếu không sẽ phải đối mặt với sự phản kháng mạnh mẽ và mọi nỗ lực sẽ tan thành mây khói.

Sau khi suy nghĩ kỹ, anh ta nhận ra rằng việc tham gia vào quá trình sản xuất tơ là giải pháp phù hợp nhất hiện nay. Là một người du hành thời gian, ưu thế lớn nhất của anh ta chính là có thể sử dụng công nghệ tiên tiến từ Lin Gao để thành lập những nhà máy kéo tơ bán cơ khí hóa, sản xuất ra tơ chất lượng cao. Theo mô tả của Vương Tứ Niang, phương pháp kéo tơ truyền thống không chỉ có hiệu suất thấp mà chất lượng cũng kém. Nếu những sản phẩm có giá rẻ nhưng chất lượng cao được sản xuất hàng loạt và tung ra thị trường hiện tại, thì việc thay đổi từ số lượng sang chất lượng sẽ diễn ra rất nhanh.

Tuy nhiên, những người nông dân nuôi tằm tự cung tự cấp như gia đình Shen chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu các nhà máy kéo tơ này bắt đầu hoạt động. Triệu Dẫn Cung không nghi ngờ gì rằng điều này sẽ khiến hàng ngàn người nông dân phá sản, mất đất đai và tài sản, và phải sống lang thang trên đường phố. Và anh ta chính là người gây ra tất cả những điều này.

Tuy nhiên, tình huống này lại có lợi cho Tập đoàn Du hành Thời gian. Chính sách lâu dài của Viện Nguyên lão đối với nông nghiệp chính là phá hủy các hình thức sản xuất nhỏ lẻ; một tầng lớp nông dân tự cày cấy nhỏ bé, ổn định, dù họ sở hữu đất đai riêng hay chỉ làm ruộng thuê, đều không phải là điều Viện Nguyên lão mong muốn – họ cần một lượng lao động tự do có thể được thuê mướn.

Ngoài việc sản xuất tơ, việc phát triển nông nghiệp tằm trên quy mô lớn cũng rất tiềm năng. Triệu Dẫn Cung đã chứng kiến sự bùng nổ về năng suất lao động mà Ủy ban Nông nghiệp đã mang lại cho Lin Gao thông qua việc cải thiện nông nghiệp và phổ biến kỹ thuật nông nghiệp; nếu áp dụng những phương pháp tương tự tại Hàng Châu, sản lượng và chất lượng của lá tằ

Khi ban đầu Triệu Dẫn Cung lên kế hoạch “đi sâu vào ngành dệt may”, ông đã nghĩ đến việc sử dụng máy tuabin nước.

Nếu muốn mở xưởng và sử dụng động cơ máy tuabin nước, thì chắc chắn phải có đất đai. Khu đất này phải đủ rộng lớn, và gần đó phải có sông – dù là trồng cây tơ hay xây nhà máy kéo tơ, đều cần nguồn nước lớn. Với những điều kiện này, rõ ràng thành phố Hàng Châu không phù hợp. Phải tìm địa điểm ở ngoại ô mới được.

Triệu Dẫn Cung đã từ lâu quan tâm đến khu đất này – ông đã để mắt đến núi Phượng Hoàng nằm bên ngoài cổng Phượng Sơn. Đây vốn là nơi đặt cung điện của triều đình Nam Tống, trong thời đại Song Nguyên thì thuộc về khu vực trong thành phố. Cuối thời Nguyên, khi Trương Thị Thành xây dựng tường thành mới cho Hàng Châu, núi Phượng Hoàng đã bị đưa ra ngoài thành. Năm Thiên Niên thứ 14 của triều đại Nguyên, cung điện Nam Tống trên núi Phượng Hoàng đã bị cháy, phần lớn bị thiêu rụi. Mười năm sau, Dương Liên Chân Gia đã xin phép triều đình Nguyên sử dụng nền móng, các công trình còn sót lại và vật liệu xây dựng của cung điện Nam Tống để xây dựng năm ngôi chùa trên núi Phượng Hoàng. Nhưng những ngôi chùa này cũng lần lượt bị phá hủy trong các cuộc chiến cuối thời Nguyên, và đến cuối thời Minh, núi Phượng Hoàng đã trở thành một khu đất hoang vu, ít người lui tới. Triệu Dẫn Cung đã tìm hiểu rõ – mặc dù nơi này nằm ngay gần thành phố, nhưng lại rất hẻo lánh, ngoại trừ vài làng nhỏ thì hầu như không có người ở.

Tuy nhiên, đối với Triệu Dẫn Cung, đây chính là địa điểm lý tưởng. Đất hoang thì giá cả sẽ không cao, phù hợp với điều kiện tài chính hiện tại của ông. Việc có thể xây dựng cung điện cũng chứng tỏ địa hình ở đây không quá gập ghềnh, mà chắc chắn là những ngon đồi bằng phẳng. Ngoài việc xây dựng nhà cửa, trên những ngon đồi này còn có thể trồng nhiều cây tơ để cung cấp lá tơ cho ngành nuôi tằm. Hơn nữa, núi Phượng Hoàng một mặt giáp sông Trung Hà, một mặt liền kề sông Tiền Đường, việc dẫn nước để sử dụng làm động lực hoặc nước sinh hoạt đều rất thuận tiện. Nếu sau này muốn mở thêm nhiều nhà máy, cũng có thể dễ dàng lấy nước và thoát nước.

Trong tương lai, trạm Hàng Châu cũng sẽ cần phải xử lý việc di dời dân cư – việc đặt trung tâm tái định cư ngay trong biệt thự của mình là không thích hợp chút nào. Thứ nhất, không có đủ không gian; thứ hai, đây là khu vực nhà ở cao cấp trong thành phố, việc có quá nhiều người nghèo ra vào biệt thự của Triệu Dẫn Cung

Với một khu vực rộng lớn như vậy, Triệu Dẫn Cung tất nhiên không có đủ sức mạnh cũng không cần thiết phải mua hết tất cả – dù sao thì ông ấy đến đây là để kinh doanh chứ không phải để xây dựng một công viên tưởng niệm các di tích cung điện của Nam Tống. Ngay lập tức, ông ra lệnh cho Thái Thực và Tôn Vượng Tài đi tìm hiểu thông tin về quyền sở hữu đất đai trong khu vực núi Phượng Hoàng và giá cả đất đai, đồng thời khảo sát những nơi có thể xây dựng trang trại.

Sau đó, ông soạn thảo một bức điện báo, trình bày rõ ràng những ý tưởng và kế hoạch của mình cho Cục Tình báo Ngoại giao. Bao gồm cả những yêu cầu về sự hỗ trợ cần thiết: vốn, máy móc thiết bị và nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp.

Trong khi chờ đợi phản hồi, Triệu Dẫn Cung tiếp tục tìm kiếm các cơ hội kinh doanh khác – không chỉ vì muốn kiếm tiền, mà còn nhằm mở rộng mối quan hệ với người dân địa phương.

Ông đã nghĩ đến việc mở một nhà in – kỹ thuật in chữ cái và in trên bia đá đều là những công nghệ dễ mang lại lợi nhuận nhất mà Tập đoàn Du hành Thời gian nắm giữ; hơn nữa, họ còn sở hữu rất nhiều tài liệu đã được kiểm tra kỹ lưỡng trong thời đại cũ. Những bản in này, nếu sản xuất hàng loạt, sẽ vượt trội hơn hẳn so với các cuốn sách thông thường được bán ở các hiệu sách địa phương, chưa kể đến chất lượng in ấn của chúng.

Ngành in ấn bằng kỹ thuật khắc bản ở khu vực Giang Nam vào thời điểm đó rất nổi tiếng, và điều này có liên quan mật thiết đến sự phát triển văn hóa ở đây. Các thành phố như Nam Kinh, Tô Châu và Hàng Châu đều có những hiệu sách quy mô lớn, chuyên về biên tập, xuất bản, in ấn và bán hàng, tạo thành một ngành công nghiệp đáng kể. Vì vậy, thị trường cho ngành này chắc chắn là rất rộng lớn.

Hơn nữa, trong suy nghĩ của mọi người lúc bấy giờ, sách vẫn được coi là những “vật phẩm thanh cao”; sách luôn gắn liền với những người ham đọc sách. Trong một xã hội mà kiến thức bị một số ít người độc chiếm, sách không chỉ có giá trị thực dụng mà còn mang ý nghĩa về mặt văn hóa và tâm lý. Vì vậy, những chủ hiệu sách cũng được coi là những người “cao quý”, và việc giao tiếp với họ thường được đánh giá cao hơn.

Tuy nhiên, việc mở một nhà in vẫn cần thiết phải có thiết bị, công nghệ và nhân viên. Những thứ này hiện tại chỉ có ở Lâm Cao mới có sẵn. Theo như Triệu Dẫn Cung biết, cho đến nay, vấn đề về việc chế tác chữ cái dùng cho in chữ cái vẫn chưa được giải quyết triệt để. Vì vậy, trước khi lên đường, người phụ trách bộ phận in ấn còn đặc biệt y

Việc mở một hiệu sách đơn thuần thì vẫn chỉ là hành động của người buôn bán mà thôi. Các nhà văn học cũng chỉ có thể “quan tâm đặc biệt” mà thôi, chứ không thực sự đối xử bình đẳng. Phải tìm cách làm cho nó trở nên thanh lịch và tao nhã hơn mới được. Bỗng nhiên, Triệu Dẫn Cung nghĩ đến những hiệu sách văn hóa mà anh từng thấy ở thời gian khác; những nơi này thường có khu vực uống trà hoặc cà phê, người mua sách có thể thoải mái đọc sách, uống trà trong khi lướt qua các cuốn sách, dù không mua cũng được, và chủ hiệu chỉ kiếm tiền từ việc bán trà… Mọi người đều cảm thấy điều đó rất thanh lịch và nghệ thuật. Liệu ý tưởng này có thể áp dụng được ở Đại Minh hay không?

Nếu suy nghĩ sâu hơn nữa, thì sách trong hiệu sách này nên được bổ sung càng nhiều càng tốt, để tạo ra không khí giống như một thư viện. Không chỉ nên có các loại sách kinh điển, sử sách, triết học… mà còn nên nhập khẩu thêm những cuốn sách được in ở Lâm Cao, được gọi là “sách Úc”. Những cuốn sách này về mặt chất lượng in ấn, loại giấy và nội dung đều tốt hơn nhiều so với sách ở thời đại này; chúng có thể được coi là những “vật quý hiếm” để thu hút những người yêu thích đọc sách – bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần phải có “điểm bán” mới thành công được.

Ngoài sách ra, anh còn nghĩ đến việc bán thêm giấy, đồ dùng học tập và các vật phẩm nhỏ khác liên quan đến Úc. Điều này sẽ giúp hiệu sách của mình trở nên khác biệt so với các hiệu sách thông thường, tránh việc cạnh tranh với họ. Ngoài ra, cũng có thể thiết lập một hệ thống cho mượn sách theo hình thức hội viên, cho phép người đọc mượn sách về nhà đọc miễn phí mà không cần mua. Thông qua việc đăng ký thành viên, cũng có thể khai thác các mối quan hệ quen biết trong địa phương. Tất nhiên, lợi ích lớn nhất vẫn là “tiếng tăm”. Trong thời cổ đại, sách là thứ rất quý hiếm; không chỉ số lượng ít mà giá cả cũng rất cao. Những nhà văn nghèo thường chỉ có vài cuốn kinh điển và tập sách cần thiết cho việc thi cử mà thôi. Nếu muốn đọc nhiều sách hơn, họ phải đi khắp nơi để mượn; đặc biệt là những cuốn sách lớn, hiếm có, thì chỉ có những người giàu có và có thư viện ở nhà mới có thể mượn được. Chính vì sách quý hiếm như vậy, nên những gia đình sở hữu sách thường không muốn cho mượn dễ dàng; trong quá trình đó, không tránh khỏi phải nói nhiều, vận động và xin xin. Chính vì vậy, trong xã hội Trung Quốc cổ đại, việc sở hữu và mượn sách đã tạo ra vô số câu chuyện, giai thoại và truyền thuyết.

1/1 0%