lore

Chương 2414: Hương Vân Sa

9,600 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Nói về nỗi khổ đến mức có thể khiến người ta chết đói, thì quả là không có,” Trần Lâm nói, “Nhưng cuộc sống của người dân bình thường giờ đây đã tồi tệ hơn rất nhiều.”

Người dân trong làng Nam Sa, chỉ cần họ có họ Trần, thì cuộc sống của họ vốn dĩ cũng khá ổn định. Ngay cả những gia đình nghèo nhất cũng đủ ăn no mặc ấm, khi có người ốm thì cả làng sẽ lo việc mua thuốc, còn khi có người qua đời thì cả làng sẽ chuẩn bị quan tài. Vào những dịp lễ tế tổ hay Tết Nguyên đán, mọi người còn được chia vài miếng thịt để ăn.

Còn những người thuê đất, thợ máy hoặc lao động chính thức không mang họ Trần thì cuộc sống của họ tự nhiên không được thoải mái như vậy, nhưng dù sao họ cũng vẫn có thể sống qua ngày.

Tuy nhiên, kể từ khi anh trở về, mặc dù chỉ mới vài ngày, cuộc sống của người dân trong khu vực Nam Sa đã trở nên rất khó khăn. Nguyên nhân chính là do bọn cướp và quân phiệt gây ra, nhưng người anh họ của anh cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc làm cho tình hình càng thêm tồi tệ.

Nhưng anh không dám nói điều này với người phụ nữ cao tuổi kia, bởi rõ ràng Lý Mò Nhi tin tưởng vào người anh họ của mình một cách sâu sắc, và niềm tin đó không phải là niềm tin xuất phát từ sự lừa dối. Những việc người anh họ của anh làm trong vai trò là người đứng đầu đội quân bảo vệ địa phương rõ ràng đã nhận được sự ưa chuộng của người dân địa phương.

Trong vài ngày trở về, Trần Tuyên đã tìm hiểu được khá nhiều thông tin từ em gái và gia đình Trần Thanh nơi anh đang ở.

Kể từ khi Nam Sa chính thức thuộc về sự quản lý của người dân địa phương vào tháng 4 năm 1635, nhờ vào những may mắn trong thời gian lạc lõng và những kỹ năng giao tiếp mà anh đã rèn luyện trong nhiều năm, Trần Tuyên đã làm hài lòng các nhà lãnh đạo địa phương đến mức họ rất tin tưởng anh. Chẳng bao lâu sau, anh đã được bổ nhiệm làm “người liên lạc” tại Nam Sa, và sau đó lại được chọn làm “người đứng đầu đội quân bảo vệ”, tức là trưởng làng.

Ban đầu, việc anh nắm quyền đã không nhận được sự ủng hộ của mọi người, dù là người trong dòng họ hay người dân trong làng, ai cũng coi anh là một kẻ “lang thang” và “đồ hỗn độn”. Nhiều người lớn tuổi còn tuyên bố rằng việc Trần Tuyên trở thành người đứng đầu đội quân bảo vệ là một “trò cười lớn”. Nếu anh chỉ muốn giúp làng đối phó với người dân địa phương thì mọi người vẫn có thể chấp nhận, nhưng nếu anh muốn can thiệp vào công việc của dòng họ, thì họ sẽ mở đình làng để đuổi anh ra khỏi dòng họ và cấm anh ở lại Nam Sa.

Không ngờ rằng Trần T

Ngay cả đình thờ cũng bị hắn chiếm dụng một cách công khai để làm nơi sử dụng chung cho làng.

Trần Tuyên rất hiểu rằng quyền lực của mình tại Nam Sa hoàn toàn phụ thuộc vào người Úc. Kể từ khi được bổ nhiệm vào vị trí này, hắn tỏ ra “nhiệt tình” trong việc thực hiện các nhiệm vụ do người Úc sắp xếp – dù là việc thu thuế “hợp lý”, điều động nhân lực hay duy trì trật tự an ninh… Bất kỳ nhiệm vụ nào được Chính quyền Huyện Xiangshan giao phó, hắn đều cố gắng hết sức. Chỉ trong vài tháng, làng Nam Sa thuộc Huyện Xiangshan đã trở thành “làng mẫu” mà ngay cả Ông Văn cũng biết đến.

Tất nhiên, việc trở thành “làng mẫu” cũng đòi hỏi phải trả giá. Đặc biệt là vào giai đoạn Viện Nguyên lão bắt đầu gặp phải những cuộc xung đột an ninh tại Quảng Đông, rất nhiều binh sĩ Quốc quân được tổ chức tại Quảng Châu, và nguồn lương thực của họ không chỉ được vận chuyển từ Lâm Cao mà còn có rất nhiều đến từ các huyện trước đây thuộc Phủ Quảng Châu.

Ngoài việc thu thuế lương thực, công tác hậu cần cũng đòi hỏi nhiều nhân lực và tàu thuyền; những chi phí này cũng được tính vào khoản “điều động nhân lực” và áp đặt lên các huyện, làng. Tại thời Đại Minh, gánh nặng thuế thu nhập ở Quảng Đông khá nhẹ, chỉ chiếm 2,01% tổng số thuế thu nhập cả nước. Mặc dù sau này có thêm nhiều khoản thuế bổ sung và các loại thuế phụ trên địa phương, nhưng đối với gia đình Trần – những người nắm quyền ở cấp địa phương và có ảnh hưởng lớn – thì đây vẫn không phải là một gánh nặng quá lớn.

Tuy nhiên, đối với Viện Nguyên lão, mức thuế thu nhập ở Quảng Đông thực sự quá thấp. Theo ý kiến của Vương Cục và những người khác, tiềm năng thuế thu nhập ở Quảng Đông rất lớn, đáng để “khai thác triệt để”. Nhưng đối với người dân họ Trần ở Nam Sa, con số “thuế thu nhập hợp lý” này lại không hề “hợp lý” chút nào, mà thậm chí còn mang tính bóc lột. Không thể nói rằng gia đình Trần cố tình giả vờ nghèo khó; bởi vì bọn cướp bóc đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho Nam Sa, khiến gia đình Trần mất mát rất nhiều cả về tài sản cá nhân lẫn tài sản công. Hiện nay, với gánh nặng thuế thu nhập và việc điều động nhân lực, họ thực sự rất khó khăn.

Trước đây, nhiều gánh nặng mà chính quyền đặt ra, đặc biệt là việc điều động nhân lực, thường được chuyển sang các họ khác trong làng. Nhưng bây giờ, khi các họ khác nắm quyền và đề xuất nguyên tắc “phân bổ công bằng”, gia đình Trần – với số lượng nam giới đông đảo – tự nhiên phải gánh vác nhiều hơn trong vi

Khá nhiều gia đình có cơ sở kinh doanh tại thị trấn hoặc các vùng khác đã quyết định rời bỏ nơi đó, chỉ để lại tài sản ruộng đất cho dòng họ quản lý. Thật không ngờ, có rất nhiều mảnh đất ở Nam Sa bị bỏ hoang.

Trong bầu không khí lo lắng và bất an này, Nam Sa đã trải qua cả một năm. Người nông dân không thể vay tiền, việc thuê trâu hay mua phân bón đều gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, những nghĩa vụ công cộng nặng nề khiến cho, mặc dù thời tiết tốt, nhưng thu nhập trong cả năm cũng chỉ ở mức trung bình.

Những cam kết về việc giảm tiền thuê đất và áp dụng chính sách thuế pro-rata vốn được hứa, nhưng thực tế thì số tiền mà người dân phải đóng góp lại tăng lên đáng kể. Mặc dù Trần Tuyên làm việc rất hiệu quả trong việc phục vụ những yêu cầu của người Úc, nhưng anh ta lại không có khả năng phát triển các hoạt động kinh doanh. Chỉ nhờ vào việc “thúc giục mạnh mẽ”, anh ta mới có thể thu thập đủ số tiền mà người dân phải đóng góp trong năm đó. Với việc thu hai lần tiền này trong một năm, tài sản của các gia đình họ Trần gần như bị cạn kiệt.

Tuy nhiên, anh ta không dám nói những điều này với Lý Mò Nhi. Thành thật mà nói, tình hình khó khăn hiện nay của người dân làm cho Lý Mò Nhi cũng có phần trách nhiệm: chỉ riêng việc người dân tự bỏ tiền ra để sản xuất gạch, vận chuyển gỗ… đã khiến cho nhiều người phàn nàn.

Sau một lúc suy nghĩ, anh ta mới e dè nói: “Mùa xuân năm ngoái, người dân Nam Sa đã phải chịu đựng những cuộc chiến tranh, tài sản của họ đều bị cạn kiệt. Cả những con tằm nuôi vào mùa xuân cũng bị hủy hoại. Mỗi gia đình đều gặp rất nhiều khó khăn…”

“Ý anh là bây giờ người dân Nam Sa đang phải chịu gánh nặng quá lớn?” Lý Mò Nhi cười hỏi.

Trần Lâm đỏ mặt, cảm thấy mình bị phát hiện ý đồ, và anh ta cũng sợ rằng mình sẽ làm phiền đến chú mình. Anh vội vàng nói: “Sau những cuộc hỗn loạn, người dân đều rất mệt mỏi và thiếu thốn. Nếu chúng ta có thể quan tâm đến họ một chút, thì đó sẽ là điều tốt cho cả đất nước và người dân.”

Lý Mò Nhi nghiêng đầu nhìn anh ta một cách thích thú, khiến Trần Lâm cảm thấy da đầu mình tê dại. May mắn thay, sự chú ý của cô ấy không kéo dài lâu. Cô ấy hỏi: “Anh đã trở về Nam Sa được bao lâu rồi?”

“Hai… hai ngày…”

“Vậy làm sao anh biết được rằng người dân Nam Sa đang phải chịu gánh nặng quá lớn và tài sản của họ đều bị cạn kiệt?”

Trần Lâm đổ mồ hôi lạnh, anh sợ rằng những người già đã viết thư cho mình, gia đình Trần Thanh và em gái mình cũng sẽ bị liên

“Có thể nói rằng, hiện nay ở Nam Sa, cuộc sống của một số người không còn tốt như trước đây nữa,” Lý Mò Nhi nói. “Nhưng đối với một số người dân khác, cuộc sống hiện tại có lẽ đã tốt hơn so với trước đây.”

Trần Lâm vội vàng đáp: “Đúng vậy…”

Lý Mò Nhi thay đổi giọng điệu: “Tuy nhiên, việc Viện Nguyên lão đến Nam Sa không chỉ là để mọi người đều có cái ăn mà thôi. Mục tiêu thực sự là giúp mọi người sống tốt hơn so với trước đây. Nhà máy dệt lụa này chính là minh chứng cho điều đó – nếu kế hoạch của Phong Sinh Hòa thành công, người dân sẽ không chỉ đủ ăn mặc mà còn có nhiều điều tốt đẹp hơn nữa.”

“Đúng vậy, tôi hiểu rồi,” Trần Lâm nghĩ trong lòng, nhưng anh biết rằng đó chỉ là những lời hứa suông mà thôi! Dù bây giờ người dân Nam Sa có cái ăn, nhưng họ vẫn chỉ sống dựa vào những gì đã có từ trước đây. Nếu để ông chú tiếp tục làm những việc vô ích này, thì năm nay họ thậm chí không thể nuôi tằm được nữa, làm sao có thể sản xuất ra lụa?

Ban đầu, anh chỉ đang trả lời câu hỏi của Lý Mò Nhi một cách qua loa, cẩn thận trong từng lời nói. Nhưng bây giờ, lòng nhiệt huyết của anh đã bùng cháy lên, và anh quyết định phát biểu: “Lời nói của ngài rất đúng đắn. Tuy nhiên, sau Tết Nguyên đán, khi mùa xuân đến, người dân sẽ cần giống trồng và gia súc để canh tác. Những gia đình không có trâu bò sẽ gặp khó khăn… Sau những cuộc chiến tranh, mọi ngành nghề đều bị ảnh hưởng nặng nề; chúng ta cần phải tìm cách giải quyết những vấn đề này. Xin ngài hãy quan tâm đến điều này…”

Lý Mò Nhi ngập ngừng. Khi cô đến Nam Sa, những thông tin mà cô nhận được đều nói rằng đây là một ngôi làng giàu có. Vì vậy, cô không quá quan tâm đến tình hình thực tế ở đây. Những hoạt động ngắn ngủi của cô, cùng với các vệ sĩ và sinh viên, cho thấy mặc dù làng này đã trải qua những cuộc bạo loạn, nhưng người dân vẫn đủ ăn mặc.

Nếu việc đủ ăn mặc không thành vấn đề, thì sản xuất nông nghiệp vào năm 1635 cũng sẽ diễn ra bình thường. Sau nửa năm phục hồi, sản xuất nông nghiệp năm nay chắc chắn sẽ không gặp khó khăn gì. Việc cô thúc đẩy việc trồng tằm mới và cây dâu tơ cũng là điều hoàn toàn hợp lý. Vậy tại sao người thanh niên này lại nói rằng cần phải tìm cách hỗ trợ?!

Cô do dự hỏi: “Mùa thu năm ngoái, mùa thu hoạch thế nào? Khi tôi đến Nam Sa, mọi người đều nói rằng không có thiên tai gì xảy ra, mùa thu hoạ

1/1 0%