lore

Chương 884: Mẫu H800

10,083 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Lương thực là thiên lý của dân chúng; nếu muốn thu hút người tị nạn đến đây, chúng ta cần phải có đủ lượng thực phẩm. Việc cung cấp bữa ăn cho 200.000 người trong suốt quá trình hành trình dài là một gánh nặng lớn – ngay cả khi xuất phát từ Thượng Hải hoặc Trạch Bác, con đường biển đến Lâm Cao cũng dài tới 900 hải lý, và các con thuyền buồm sẽ mất 10 ngày mới đến nơi.”

Ngay cả những người khỏe mạnh, việc đi qua quãng đường biển dài và gập ghềnh trên những con thuyền buồm cũng không hề dễ dàng; huống chi là những người tị nạn đang đói khát và suy dinh dưỡng trong thời gian dài. Nếu không được cung cấp những loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và calo, họ sẽ rất khó có thể sống sót đến cuối hành trình này.

Dựa trên kinh nghiệm nhiều năm trong việc tiếp nhận người tị nạn, họ nhận thấy rằng việc cung cấp cháo loãng có thêm rau củ là loại thực phẩm phù hợp với hệ tiêu hóa yếu ớt của những người tị nạn này. Sau khi hệ tiêu hóa của họ dần thích nghi, họ có thể bổ sung thêm các nguồn protein vào cháo loãng – chủ yếu là các sản phẩm từ biển – để giúp tăng cường sức khỏe.

Tại các trại kiểm dịch, việc nấu cháo từ gạo lứt và khoai lang hoặc các loại thực phẩm khác khá đơn giản, nhưng những loại thực phẩm thông thường này không chỉ không đáp ứng được yêu cầu về quản lý và dinh dưỡng tại Lâm Cao, mà còn gây ra nhiều khó khăn trong quá trình vận chuyển và sử dụng. Việc nấu cháo cho hàng trăm người trong căn bếp hẹp trên thuyền là điều rất khó khăn; do đó, cần phải có những loại thực phẩm đơn giản và dễ ăn để cung cấp cho họ.

Kế hoạch cung cấp thực phẩm của Hồng Hoàng Nam được xây dựng dựa trên kinh nghiệm trong các chiến dịch tiếp nhận người tị nạn trước đây – tức là cung cấp đầy đủ các loại thực phẩm ăn nhanh cho mỗi con thuyền. Loại thực phẩm ăn nhanh này đã được phát triển một cách chuyên nghiệp, với ba loại chính và mười hai phiên bản khác nhau; nếu tính cả các hương vị và nguyên liệu khác nhau, số lượng phiên bản còn nhiều hơn nữa. Những loại thực phẩm này không chỉ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về dinh dưỡng và calo, mà còn có hương vị rất ngon miệng.

Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị Ô Đức bác bỏ: việc phân phát số lượng lớn thực phẩm ăn nhanh này có chi phí quá cao, và lượng hàng dự trữ cũng không đủ, kể cả những số lượng được lưu trữ trong các kho của quân đội. Chỉ có 1,5 lượng hàng dự trữ mà thôi. Về mặt thành phần dinh dưỡng, thực phẩm ăn nhanh này cũng không hợp lý lắm; vì chúng chứa nhiều protein và chất béo, nên rất khó để cơ thể người tị nạn yếu ớt có thể tiêu hóa hết.

Protein và chất béo dồi dào trong thực phẩm ăn nhanh này s

Vụ việc này đổ dồn lên đầu của Hùng Tốc Tế – với tư cách là giám đốc nhà máy thực phẩm, ông chắc chắn không thể tránh khỏi trách nhiệm này. Hùng Tốc Tế đã kết hôn và có gia đình, các bà vợ trong nhà đều chăm sóc ông rất chu đáo; quan trọng hơn nữa, giữa Lưu Mỹ Lan và Kim Hỉ Thận không hề xảy ra bất kỳ “xung đột gia đình” nào. Mối quan hệ gia đình khá hòa thuận, và khi gia đình êm ấm thì mọi việc đều suôn sẻ; vì vậy, Giám đốc Hùng không chỉ được hưởng niềm hạnh phúc gia đình mà còn làm việc với tinh thần hăng hái.

Sau khi nhận được nhiệm vụ, ông ngay lập tức gặp gỡ nhóm người từng tham gia vào dự án phát triển lương thực cỏ để thảo luận về cách sản xuất lương thực cứu trợ.

Cuộc họp về lương thực cứu trợ được tổ chức tại Lầu Sen của trang trại Nam Hải. Khác với quán cà phê, nơi này được thiết kế riêng biệt theo phong cách “nông thôn”. So với trước đây, môi trường xung quanh Lầu Sen đã được trang trí cẩn thận; bên cạnh ao sen đầy lá sen, chiếc lầu nhỏ ban đầu được xây dựng bằng tre và rơm đã được cải tạo thành một công trình ba gian với ban công gỗ hướng ra mặt nước, xung quanh trồng đầy cây ăn quả và liễu. Rào tre được bao phủ bởi những giàn bí xanh mướt.

Đứng giữa không gian này, người ta thật sự cảm thấy như đang ở một số khu nghỉ dưỡng nông thôn được trang trí cầu kỳ thời xa xưa.

Ngoài những người từng tham gia vào dự án phát triển nông nghiệp và những “người nhiệt tình”, Bạch Đa Lộc cũng có mặt tại cuộc họp này. Sự nhiệt tình của ông đối với việc sản xuất lương thực cứu trợ hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu truyền giáo tại khu vực Lý. Nông nghiệp ở khu vực Lý còn lạc hậu hơn so với khu vực Hán; đặc biệt là ở vùng sinh thái Lý, nơi mà nông nghiệp vẫn còn theo hình thức canh tác truyền thống, và tình trạng thiếu lương thực ở các làng mạc là điều phổ biến. Nhà thờ thường sử dụng việc phân phát lương thực cứu trợ như một phương tiện truyền giáo; do đó, Tu viện Lâm Cao rất cần loại lương thực cứu trợ giá rẻ.

Những người từng tham gia vào dự án phát triển lương thực cỏ ban đầu chủ yếu là những người am hiểu về lương thực quân sự; trong số họ, có rất nhiều người ngồi ở nhà, mặc đồ ngủ và thưởng thức những loại thực phẩm ăn nhanh đắt tiền mua về, và họ đều biết rõ về các loại lương thực quân sự như MRE, lương thực ăn nhanh 24 giờ của quân đội Anh, lương thực tự nhiệt cho binh sĩ của Pháp, hay thực phẩm tự nhiệt 06 dành cho cá nhân.

Bây giờ, việc phát triển một loại lương thực cứu trợ chính là điểm đến lý tưởng đối với tất cả mọi người

Chứa hàm lượng chất xơ rất cao so với khoai lang.

Tại Lâm Cao, nguồn cung khoai lang khô và bột khoai lang rất dồi dào. Tổ chức Thiên Địa đã thúc đẩy mạnh mẽ việc cải thiện kỹ thuật trồng khoai lang tại đây; cả các trang trại nhà nước lẫn hộ nông dân thông thường đều sản xuất ra lượng lớn khoai lang. Có thể nói nguồn nguyên liệu này rất dồi dào, trở thành nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp thực phẩm của Lâm Cao.

Ngoài bột khoai lang ra, còn có một lượng protein nhỏ. Ngô Nam Hải đề xuất trộn thêm một ít bột đậu hoặc phụ phẩm đậu vào hỗn hợp. Các loại cây họ đậu, vốn là những cây có khả năng cố định nitơ, được trồng rộng rãi trong hệ thống luân canh mới của Lâm Cao. Ngoại trừ đậu nành – nguyên liệu cần thiết để ép dầu và làm đậu phụ – thì nguồn cung các loại đậu khác như đậu tằm, đậu Hà Lan, đậu đen, đậu gà… cũng khá dồi dào.

“…Chỉ cần thêm đường và muối, trộn thêm một số rau khô; nếu thấy phụ phẩm đậu không đủ, có thể thêm bột cá vào sau đó sấy khô thành từng khối là được,” Ngô Nam Hải nói.

Diệp Vũ Minh phản đối: “Tại sao lại phải làm thành khối như vậy? Điều đó chỉ làm lãng phí sức lao động mà thôi. Theo tôi, không cần thiết đâu. Nếu chỉ xét đến yếu tố chi phí thấp, thì việc sử dụng khoai lang khô là giải pháp tốt hơn – chúng ta có nguồn cung dồi dào, và khoai lang khô cũng không dễ hỏng. Chỉ cần mỗi con tàu chở vài trăm bao khoai lang khô, mỗi bữa có thể phân phát cho người tị nạn một lượng nhất định. Như vậy, mỗi ngày họ vẫn có thể nhận được 500 gram khoai lang khô, đủ để không bị đói. Tuy nhiên, cần phải kèm theo một chút canh nữa; người tị nạn không thể thiếu muối được.”

Ông đề xuất sản xuất loại gia vị được tinh chế và sấy khô thành khối, bằng cách kết hợp miso, tảo biển và rau khô thành từng khối nước dùng đậm đặc.

Loại nước dùng này, khi dùng để nấu canh đậu nành, là món ăn phổ biến ở Nhật Bản và Triều Tiên; nó giàu dinh dưỡng, mặc dù hương vị không mấy ngon miệng.

“Nếu muốn, có thể thêm một số rau khô hoặc cá khô vào nước dùng để bổ sung thêm dinh dưỡng. Vì khoai lang đã chứa hàm lượng chất xơ rất cao rồi, nên không cần phải bổ sung thêm các chất xơ khác nữa,” Ngô Nam Hải nói.

Hồng Hoàng Nam tiếp tục ủng hộ ý tưởng sử dụng bột khoai tây. Ông rất yêu thích khoai tây và luôn khuyến khích quân đội và lao động viên ăn nhiều khoai tây hơn.

“Vẫn là giải pháp mà tôi đã đề xuất trước đây: trộn bột khoai tây đã được sấy khô với dầu động vật và các loại gia vị. Khi ăn, chỉ cần thêm nước và nấu chín thành khoai tây nghiền

“Hơn nữa, chúng ta chưa bao giờ trồng khoai tây quy mô lớn cả.”

“Khoai tây có thời gian trồng ngắn, năng suất cao, vừa có thể dùng làm rau vừa có thể dùng làm lương thực chính. Những khoai tây thừa sau khi được sấy khô thành bột khoai tây có thể được bảo quản trong thời gian dài! Tôi không hiểu tại sao Ngành kinh doanh lại không muốn quảng bá trồng khoai tây?”

“Vùng Lâm Cao này không thích hợp để trồng khoai tây; tốt nhất nên đưa việc trồng này ra miền Bắc mới phù hợp,” Ngô Nam Hải nói. Trong các cánh đồng thử nghiệm của trang trại Nam Hải, người ta chỉ trồng khoai tây để duy trì nguồn giống mà thôi, không có ý định quảng bá. Theo kết quả trồng thử, năng suất của khoai tây ở đây cũng không cao bằng ở miền Bắc, và so với khoai lang thì cũng không có ưu thế gì.

“Năng suất của khoai tây rất cao, nhưng hàm lượng nước trong khoai tây cũng rất nhiều. Tỷ lệ lương thực thu được thực tế sẽ giảm đi đáng kể. Theo tiêu chuẩn của thời đại cũ, năm cân khoai tây mới tương đương với một cân gạo.”

Sau cuộc thảo luận, kế hoạch cung cấp lương thực cứu trợ cuối cùng được đặt tên là “Loạt sản phẩm lương thực đơn giản”. Sản phẩm đầu tiên trong loạt này là bánh quy làm từ bột khoai lang. Trong mỗi khẩu phần lương thực nặng nửa cân gồm hai chiếc bánh quy này, có sự kết hợp giữa hai hương vị mặn và ngọt. Đồng thời, sản phẩm “Khối súp ăn nhanh số 1”, hay còn được Diệp Vũ Minh gọi là “súp sốt”, cũng đã được sản xuất hàng loạt. Việc chế biến miso đòi hỏi phải sử dụng đậu hoặc gạo mì, vì nguyên liệu có hạn nên chỉ có thể sản xuất với số lượng nhỏ. Một khối súp ăn nhanh số 1 có thể dùng để nấu súp miso cho mười người.

Sau này, loạt sản phẩm lương thực đơn giản đã phát triển thành loại lương thực cung cấp đa dạng tương tự như loạt sản phẩm dành cho khu vực đồng cỏ. Tuy nhiên, số lượng các loại sản phẩm trong loạt này khá ít, và chúng chỉ được phân loại theo mục đích sử dụng. Về mặt mục đích sử dụng, chúng được chia thành các loại như “Cứu trợ tại chỗ”, “Cứu trợ tại trại”, “Cứu trợ qua đường vận chuyển bằng xe cộ và tàu thuyền” và “Cứu trợ cho người đi bộ”. Mỗi loại sản phẩm lại được chia thành phiên bản dành cho mùa đông và phiên bản thông thường. Năng lượng và thành phần dinh dưỡng của mỗi loại lương thực đều khác nhau.

Tuy nhiên, nội dung của các lô lương thực cứu trợ được sản xuất trong các đợt khác nhau có sự khác biệt lớn. Tùy theo mùa vụ sản xuất lương thực khô, diện tích lãnh thổ được Viện Nguyên lão kiểm soát ngày càng mở rộng và trình độ sản xuất nông nghiệp ngày càng được cải thiện, nội dung của các loại lương thực cũng liên tục thay đổi.

1/1 0%