lore

Chương 1711: Chế tạo tiền mới

9,663 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong quá trình luyện kim, công nhân liên tục dùng cây khuấy để trộn đều hỗn hợp hợp kim bên trong nồi luyện. Sau khi đảm bảo rằng hỗn hợp đã được trộn đều và luyện chín, họ sẽ đổ hỗn hợp vào khuôn làm bằng thép để tạo thành các thanh bạc dùng để đúc tiền.

Vì trọng lượng của bạc cao hơn nhiều so với đồng và kẽm, nên trong quá trình trộn luyện, bạc thường có xu hướng chìm xuống đáy nồi trong khi các kim loại khác nổi lên trên mặt. Nếu không trộn đều, thanh bạc đầu tiên sản xuất ra có thể chứa ít bạc hơn, còn thanh cuối cùng lại chứa nhiều bạc hơn. Vì vậy, ở mỗi lần luyện, người ta sẽ lấy một lượng nhỏ bột từ đầu thanh bạc đầu tiên và phần trên cùng của thanh cuối cùng để kiểm tra, nhằm đảm bảo rằng tỷ lệ bạc trong các thanh bạc đều nhau.

Các thanh bạc sau khi được đúc xong vẫn chưa thể sử dụng ngay làm vật liệu để ép kim loại; chúng chỉ là những sản phẩm đúc thô mà chưa qua quá trình “đập đục”. Các thanh bạc này sau đó được đưa đến xưởng cán để cán thành những tấm có kích thước nhất định, chuẩn bị cho việc ép kim loại. So với việc xử lý thép trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao, việc biến hợp kim bạc có tính dẻo dai thành những tấm có độ dày đều và bề mặt phẳng đã không còn là vấn đề lớn đối với hệ thống công nghiệp hiện tại ở Lâm Cao.

Bước tiếp theo là quá trình ép kim loại. Người ta sử dụng máy ép để tạo ra những tấm kim loại hình tròn – đây chính là nguyên liệu để chế tạo các loại đồng xu. Những phần vụn còn sót lại sau quá trình ép sẽ được thu gom lại và đem luyện lại thành những tấm kim loại mới.

Những miếng bạc đã được ép thành hình sẽ được đưa vào máy mài để loại bỏ các góc cạnh sắc, sau đó được đưa đến xưởng tẩy axit để làm sạch bụi bẩn và dầu mỡ.

Những tấm kim loại đã được rửa sạch và mài nhẵn sẽ được xếp gọn vào máy cuốn mép. Máy này sẽ giữ chặt từng tấm kim loại và ép mạnh vào mép của chúng, tạo thành một rìa nhô ra. Rìa này rất phổ biến trên các đồng xu sau này, vì nó giúp bảo vệ hình ảnh in trên đồng xu khỏi bị mài mòn. Tất nhiên, thiết kế này được coi là rất tiên tiến trong thời đại này. Khi cuốn mép, nhà máy đúc tiền cũng sẽ in thêm những hoa văn nhỏ lên bề mặt đồng xu; nếu sử dụng bình thường, những hoa văn này sẽ không bị mài mòn đến mức có thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng nếu ai đó dùng dao cạo để cạo vào chúng, những vết cạo sẽ lập tức xuất hiện. Điều này nhằm ngăn chặn hành vi “cắt mép” – một thủ thuật rất phổ biến trong thời đại này.

Sau khi cuốn mép xong, các tấm nguyên liệu đồng xu sẽ được

Nguyên lý hoạt động của cân trọng lượng tương tự như cân thông thường: sau khi đồng xu được đặt lên bàn cân, các quả cân sẽ dao động trong một phạm vi nhất định; nếu đồng xu nằm trong phạm vi này, chúng sẽ tiếp tục rơi xuống ổ ra; ngược lại, nếu sự dao động vượt quá giới hạn cho phép, một tấm nắp khác sẽ mở ra để loại bỏ đồng xu đó.

Những đồng xu đã được đúc xong sẽ được con người kiểm tra lại, sau đó được lau sạch. Chúng được đóng gói thành từng bao 100 chiếc, bọc bằng giấy dâu tằm và niêm phong cẩn thận với dấu ấn của Bộ Tài chính, sau đó được cho vào những cái túi tiền chắc chắn và được gửi đến kho bạc của Ngân hàng Dự trữ Trung ương tại Hồng Kông, chờ đợi lúc được sử dụng.

Vào thời điểm cuối mùa đông, ở Quảng Châu, không khí vẫn còn se lạnh. Một cơn mưa lớn vừa mới tạnh, bầu trời vẫn u ám, làm tăng thêm cảm giác u sầu trong lòng mọi người.

Lúc này, trên vùng biển Sư Tử Dương nơi sông Châu Giang đổ ra biển, một con thuyền tự hành kiểu Úc đang bơi ngược dòng. Bên cạnh thuyền, Mạnh Hiền nhìn xuống mặt sông u ám, trông có vẻ đầy suy tư.

Bây giờ đã là năm thứ bảy kể từ ngày D, tức năm 1635 theo lịch Đại Minh. Ngay cả theo lịch chính thức của Đại Minh, thời gian cũng đã bước vào năm thứ tám triều đại Chương Tông.

Từ năm đầu tiên của triều đại Chương Tông, miền bắc Đại Minh liên tục gặp phải những thảm họa: năm đầu tiên là hạn hán nghiêm trọng, năm thứ ba và thứ năm là nạn đói khủng khiếp, năm thứ sáu là lũ lụt, năm thứ bảy là sâu bọ và nạn đói tràn lan. Từ Trung Nguyên đến Tây Bắc, hàng ngàn dặm đất đai trở nên cằn cỗi, không còn cây cỏ nào mọc được. Người dân phải rời bỏ nhà cửa, lang thang khắp nơi, xác chết đói rét nằm la liệt khắp núi đồi. Thanh tra tỉnh Shaanxi, Ma Mao Cái, đã viết trong “Bản tường trình về nạn đói khủng khiếp” rằng người dân đã phải ăn cỏ dại trên núi, khi cỏ dại hết thì ăn vỏ cây, và khi vỏ cây cũng hết thì chỉ còn cách ăn đất… Cuối cùng, họ chết vì bụng phình to.

Phía Hậu Kim ở Liêu Đông cũng liên tục xâm lược biên giới. Thay vì cung cấp viện trợ cho các vùng bị thiên tai, triều đình còn tăng thuế một cách gia tăng. Những người dân không thể sống nổi đã nổi dậy, và miền bắc Đại Minh rơi vào tình trạng hỗn loạn, đau khổ.

Vào tháng 11 năm thứ sáu triều đại Chương Tông, một lực lượng lớn nông dân từ Tây Bắc đã vượt qua sông Hoàng Hà và xâm nhập vào khu vực Henan.

Vào tháng 7 năm thứ bảy, Hậu Kim tiếp tục xâm lược biên

Khi một số lượng lớn người tị nạn, quý tộc và gia đình giàu có chạy trốn về phía nam, Thành phố Quảng Châu – nơi từng yên bình và hòa thuận – lại trở nên thịnh vượng một cách kỳ lạ. Các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Viện Nguyên lão như Tử Minh Lâu, Tử Thành Ký và Đại Thế Giới đều phát triển rất tốt. Đồng thời, hàng loạt người tị nạn không có nơi nào để sinh sống được vận chuyển bằng thuyền đến Lâm Cao để hưởng ân huệ từ Viện Nguyên lão.

Quả thật, vào lúc này, Viện Nguyên lão lại tiến hành chiến dịch xâm lược Quảng Đông, giống như đang đâm thêm một nhát dao vào người “bệnh nhân” yếu đuối này. Thật lòng mà nói, Mạnh Hiền vẫn cảm thấy thông cảm với Hoàng đế Chính Thần ở Tử Cấm Thành – việc ông ta cố gắng duy trì tình hình trong khi biết rõ mọi thứ đã vô phương cứu vãn là điều mà người bình thường khó có thể hiểu được.

Tuy nhiên, Mạnh Hiền hoàn toàn không cảm thấy vui vẻ chút nào. Với tư cách là giám đốc ngân hàng Đức Long và cũng là giám đốc chi nhánh Quảng Đông của Ngân hàng Dự trữ Trung ương, ông là người đứng đầu lĩnh vực tài chính cho Viện Nguyên lão tại khu vực mới này. Việc duy trì sự ổn định tài chính và kinh tế cho khu vực mới là trách nhiệm không thể tránh khỏi của ông, và điều này khiến ông cảm thấy áp lực rất lớn.

Trong khoang tàu này, đầy ắp những đồng tiền mới mà ông vừa lấy ra từ kho của Bộ Tài chính ở Hồng Kông. Đó là 200.000 đồng bạc với nhiều mệnh giá khác nhau; phần lớn là các loại tiền phụ như nửa đồng và 20 phần. Số lượng tiền một đồng không nhiều lắm, chủ yếu được dùng để chi trả cho các hoạt động văn phòng và hành chính của quân đội và các cơ quan chính quyền sau khi họ vào Quảng Châu. Dù sao thì mỗi đồng một đồng cũng nặng hơn bảy qian bạc, và so với sức mua của bạc trên thị trường Quảng Đông hiện nay, mức giá này có phần quá cao.

Ngoài những đồng bạc, còn có 20 thùng tiền giấy, phần lớn cũng là các loại tiền phụ, với tổng giá trị là một triệu đồng. Những số tiền này chính là “kinh phí khởi đầu” cho chính quyền khu vực Quảng Đông của Viện Nguyên lão. Không chỉ vậy, chúng còn phải được sử dụng để duy trì sự ổn định tài chính trên thị trường.

Xưởng đúc tiền ở Hồng Kông vẫn đang tiếp tục sản xuất đồng bạc, và máy in tiền ở Lâm Cao cũng đang hoạt động không ngừng. Tuy nhiên, ông biết rằng nguồn lực có sẵn là hạn chế, vì vậy ông cần phải tìm cách cung cấp nguồn tài chính cho chính quyền mới này càng sớm càng tốt.

“Với vẻ mặt lo lắng cho đất nước và dân tộc, có chuy

Lưu Tam hơi cận thị, phải mất một lúc lâu mới nhìn rõ được bóng đen kia có vẻ là một người. Mạnh Hiền từng tập luyện trong đội bắn súng nên thị lực của anh ta rất tốt; anh chỉ thấy người đó ôm chặt một khúc gỗ, trôi theo dòng nước, lúc nổi lúc chìm, không hề reago với tiếng hô của các thủy thủ, không biết liệu họ có còn sống hay đã chết.

Lúc này, thuyền trưởng đến xin ý kiến: trên mặt sông có người đang trôi nổi, liệu có nên cứu họ không?

Vì con tàu đang chở “vật tư đặc biệt”, thuyền trưởng không dám tự quyết định có nên giảm tốc để cứu người hay không.

Mạnh Hiền thấy con tàu đã gần đến đảo Ngọc Châu, không xa Đại Thế Giới nữa. Nơi đây thuộc phạm vi ảnh hưởng của Viện Nguyên lão, tình hình an ninh luôn tốt, xung quanh cũng không có điều gì đáng ngờ, nên anh đồng ý cứu người.

Thuyền trưởng ra lệnh giảm tốc, vài thủy thủ giàu kinh nghiệm nhảy xuống sông, kéo và đẩy người đó lên tàu. Lưu Tam tiến lại kiểm tra và thấy người được cứu là một thanh niên khoảng hai mươi tuổi; có vẻ như anh ta đã ở dưới nước khá lâu, da mặt tái nhợt, răng cắn chặt, biểu hiện đau đớn, cơ thể lạnh giá và đã vào tình trạng hôn mê nửa vời.

Mọi người cùng nhau đưa anh ta vào khoang tàu. Lưu Tam thấy anh ta vẫn thở được, không bị đuối nước. Họ bèn mở miệng anh ta và cho anh ta uống nửa chén nước nóng. Sau đó, thanh niên dần tỉnh lại, trong trạng thái mơ hồ, anh ta chạm vào vùng bụng phải và kêu đau.

Lưu Tam sai hai đệ tử nhỏ đi theo mình – đó là những đứa trẻ mồ côi mà anh vừa nhận nuôi, trong đó Phù Ngộ Bản hiện đã là một danh y nổi tiếng ở Lâm Cao – là Lưu Đức và Lưu Toàn, để họ cởi bỏ quần áo ướt của anh ta và kiểm tra tình trạng sức khỏe. Quan sát kỹ, họ thấy không có vết thương ngoài da trên bụng anh ta, nhưng mặt anh ta đỏ bừng, môi khô và hôi thở có mùi hôi thối, lưỡi đỏ và lớp rêu trên lưỡi màu vàng; khi đo mạch, mạch máu của anh ta trở nên mạnh và căng; âm dương trong cơ thể anh ta mất cân bằng, khí âm quá mạnh, tà khí xâm nhập sâu vào cơ thể, tạo ra tình trạng nguy kịch. Đó chính là hội chứng viêm ruột thừa cấp tính gây ra viêm phúc mạc lan tỏa, tình hình rất nghiêm trọng.

Lưu Tam không khỏi do dự; tình trạng này, khi tà khí xâm nhập vào máu và âm dương mất cân bằng, nguy cơ tử vong rất cao. Sử dụng các phương pháp truyền thống của y học Trung Hoa như Đại Hoàng Mã Đào Thang hoặc Đại Thừa Khí Thang có lẽ sẽ không kịp thời cứu anh ta, nhưng trên con tàu này lại không có điều kiện

1/1 0%