lore

Chương 1899: Tân Sinh

9,609 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thái Hàn Đường trong lòng nghĩ: “Sáng sớm thế mà đã bán đất cho Giáo hội Lâm Cao rồi! Đồ tôi tệ bạc này!”

Anh ta vừa cảm ơn mãi không ngớt khi rời khỏi dinh thự, nhưng đến góc đường lại phun một ngụm nước bọt và chửi thầm: “Khi kẻ tiểu nhân được quyền lực, thì luôn dùng người khác; khi không cần nữa, thì liền bỏ rơi họ… Thật là đáng ghét.” Nói xong, anh ta lại bắt đầu lo lắng: “Có lẽ Lưu Tiêng đang giận vì việc mình bị ông ta chế giễu trước mặt mọi người phải không? Vừa mới giúp mình loại bỏ cái giáo phái xấu xa kia xong, lại bắt đầu nói năng kiểu quan lại… Không biết sau này sẽ ra sao nữa… Thật là đau đầu.”

Tuy nhiên, việc có được Ngôi đền Ngũ Tiên vẫn coi là một thương vụ tốt. Lưu Tiêng nói rằng “không phiền về tình trạng xuống cấp của ngôi đền”… Đó chỉ là lời nói nhẹ nhàng mà thôi. Ngôi đền Ngũ Tiên thực sự là một trong những ngôi đền Đạo giáo lớn nhất ở Thành phố Quảng Châu, với diện tích rộng lớn và nhiều tòa nhà lớn. Bên ngoài thành nội thành còn có vô số tài sản của ngôi đền.

Một “miếng mỡ béo” như vậy, Lưu Tiêng tự nhiên không muốn để nó tuột khỏi tay mình một cách dễ dàng. Do các chính sách tôn giáo và những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, anh ta không thể để Quân đội Quốc dân xông vào và đuổi những người tu sĩ đi; hơn nữa, trong ngôi đền này cũng không hề có bức tượng thờ các vị hoàng đế hiện tại hay các triều đại trước đây, vì vậy Lưu Tiêng không thể tìm được bằng chứng nào để buộc tội họ “phản đối Viện Nguyên lão”. Vì vậy, sau khi vào thành phố, anh ta đã cho dựng một cái cọc treo cổ ngay trước cửa ngôi đền, và hàng ngày đều có người bị treo cổ. Thỉnh thoảng, anh ta còn “kiểm tra vệ sinh” và “điều tra hộ khẩu” ngôi đền; mấy người cảnh sát vệ sinh thường xuyên đứng trước cửa, và bất kỳ khi nào người tu sĩ ra ngoài và nhổ nước bọt hay vứt rác, họ đều “thực thi pháp luật một cách nghiêm ngặt”… Vị trụ trì già của ngôi đền không chịu nổi những sự áp bức này, và sau khi nghe nói rằng người Úc đang muốn “giải quyết vấn đề với các chủ đất tôn giáo”, ông ta đã lén lút mang theo bạn bè và đệ tử cùng những đồ quý giá bỏ trốn.

Khi người trụ trì bỏ trốn, ngôi đền này coi như là “không chủ nhân”. Mặc dù vị trụ trì già đã mang theo tất cả các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu khi bỏ trốn, nhưng những thứ đó đều do triều đại Minh ban hành; vì vậy triều đại Tống hoàn toàn có thể từ chối công nhận chúng. Những ngàn mẫu đất bên ngoài thành phố và hàng trăm căn nhà

“Lưu Tiêng quả là người biết giữ lời hứa…”

Thái Hàn Đường nhìn thấy số lượng hàng tồn kho đồ sộ ở đây, và vị trí của Lưu Tiêng trong mắt anh ta lại được nâng cao một chút. Với cảm giác hào hứng khi đã có “một phần đất riêng”, anh bắt đầu suy nghĩ xem làm thế nào để phân chia những ngôi nhà và công trình này, mình sẽ chiếm lấy khu vực nào, cần tiến hành những công việc sửa sang gì… Tất nhiên, cũng phải dành chỗ cho nhà của các vị đạo sư Trương và Đài nữa; phải biết điều chỉnh mức độ sao cho hợp lý…

“Điều quan trọng nhất là phải khiến vị đạo sư Đài nhanh chóng cung cấp cho mình một tấm giấy uỷ quyền, chứng nhận rằng tôi là người phụ trách Tân Đạo Giáo tại Quảng Châu – không, phải là Guangdong mới đúng… đồng thời cũng là người đứng đầu Tu viện Ngũ Tiên!” Anh tự nghĩ, “Dù có gì đi nữa, trước hết phải chiếm giữ được mảnh đất đã!”

Tuy nhiên, điều khiến anh quan tâm nhất vẫn là những thông tin được đề cập trong bức thư mà vị đạo sư Trương gửi đến. Trong thư, vị đạo sư Trương yêu cầu anh tìm một mảnh đất thích hợp ở Quảng Châu để thành lập các trường tiểu học và trung học thuộc Tân Đạo Giáo.

“…Ở Nhật Bản thời xa xưa, mọi giáo phái đều tự mình thành lập trường tiểu học và trung học; không chỉ Đạo Công Giáo hay Kitô Giáo có các trường học do giáo hội quản lý, mà ngay cả các giáo phái Phật Giáo cũng đều có trường trung học riêng. Đó là những kinh nghiệm tiên tiến mà chúng ta nên học hỏi…

“…Xét đến việc Viện Nguyên lão thường có thái độ thù địch với các tôn giáo, kế hoạch này cần được giữ bí mật. Khi bạn ở Quảng Châu, hãy chú ý và chiếm giữ những mảnh đất phù hợp, để khi thời cơ chín muồi, chúng ta có thể sử dụng chúng ngay.”

Xét từ mọi khía cạnh, nơi này quả thực là một địa điểm lý tưởng để mở trường học. Thái Hàn Đường nghĩ vậy, nhưng việc mở trường tiểu học hay trung học có lẽ sẽ mất ít nhất mười năm nữa mới thực hiện được… Còn việc mở một trường đào tạo đạo sinh thì có vẻ khả thi hơn một chút.

Một con thuyền buồm cỡ vừa đang đậu ở bến cảng; hơn mười thanh niên mặc áo đạo bằng vải xanh đã bước xuống thuyền, trong đó có nam có nữ, mỗi người đều mang theo những gói đồ lớn nhỏ. Trong nhóm còn có vài người trẻ tuổi mặc áo kiểu Sun Yat-sen, họ cẩn thận mang theo vài cái thùng gỗ; cả nhóm đều tò mò nhìn ngắm thành phố Quảng Châu vào lúc hoàng hôn. Tại kiosk trên bến, một người mập mạp mặc áo đạo vội vàng đi ra đón họ; người đàn ông trẻ tuổi đứng đầu nhóm đã đưa tay ra bắt tay người

Nơi này thực sự rất nổi tiếng. Vào thời cổ đại, bên cạnh núi Việt Thuật, trong thành phố còn có ba ngọn núi cổ khác: đó là núi Bào, núi Dư và núi Phiên. Tất nhiên, gọi chúng là núi nhưng thực ra chỉ là những đống đất cao hơn một chút mà thôi. Trừ núi Dư đã bị san phẳng khi mở rộng khu vực đô thị vào năm Thiên Ý thứ tư của triều đại Đường, hai ngọn núi còn lại vẫn còn tồn tại. Núi Bào chính là nơi đặt đền Ngũ Tiên Quan, cũng là địa điểm của một trong Tám Cảnh Đẹp của thành phố Dương Châu – “Động Thiên của Thạch Sợi”.

Ngôi đền Ngũ Tiên Quan ở thời không gian này được xây dựng vào năm Hồng Vũ thứ mười (1377) của triều đại Minh, là nơi thờ cúng thần lúa – Ngũ Tiên. Theo truyền thuyết, vào thời vua Chu Dã Vương, có năm vị tiên cưỡi những con dê năm đầu mang theo hạt lúa bay đến Quảng Châu, tặng những hạt lúa cho người dân địa phương, mong muốn Quảng Châu mãi không bao giờ phải chịu đói. Sau khi nói xong, các vị tiên biến mất, còn những con dê hóa thành đá; vì vậy Quảng Châu còn được gọi là Dương Thành hay Thạch Thành. Để tưởng nhớ những vị tiên này, người dân đã xây dựng đền Ngũ Tiên Quan và tạo tượng các vị tiên cưỡi dê để thờ cúng bên trong đền.

Sau khi xuống khỏi kiệu, mọi người thấy một ngôi đền với mái ngói lục bảo, hướng từ bắc xuống nam. Đại điện có mái hai tầng, thiết kế rất tinh xảo và đẹp mắt. Đi theo con hẻm sâu và leo lên những bậc thang, bạn sẽ đến cửa vòm, trên cửa có tấm biển lớn viết bốn chữ “Ngũ Tiên Cổ Quán”; người ta nói rằng đây là do cựu quanĐồng đã tự mình viết. Quy mô của ngôi đền khá lớn, với hàng chục điện lớn nhỏ. Có bức tường che, cổng vòm, cổng chính, điện chính, điện sau, cùng với các phòng ăn ở hai bên, điện Tam Nguyên, hành lang… Thái Hàn Đường đã sắp xếp cho mọi người nghỉ ngơi và uống trà trong căn nhà nhỏ bên cạnh cửa vòm. Thấy mọi người đều rất tò mò về ngôi đền, ông đã tự mình dẫn họ đi tham quan.

Vượt qua cửa vòm, bạn sẽ đến điện chính. Trong thế kỷ 21, chỉ còn sót lại nền móng của điện chính, nhưng ở thời không gian này, nó vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Diện tích của điện rộng năm gian, thiết kế rất hoành tráng.

Lúc này, điện chính đang được khóa lại. Thái Hàn Đường dẫn mọi người đi vòng qua nền móng của điện chính và tiếp tục đến điện sau. Điện sau rộng ba gian, dài 12 mét, sâu ba gian, rộng 10 mét, cao 7 mét, có mái hai tầng và lợp ngói lục bảo. Hai đầu mái được trang trí bằng họa tiết xoắn ốc;

“Gì cơ? Hóa ra nơi này chính là sông Châu Giang à?” Phú Mạng cảm thấy không thể tin được.

“Đúng vậy, hơn một ngàn năm trước, sông Châu Giang đã chảy qua phía trước ngọn đồi này, và nơi này chính là một bến đò. Vào thời nhà Tấn, nơi đây được gọi là ‘Bến đò cổ Po Sơn’.” Thái Hàn Đường kể lại những điều anh vừa nghe được từ Lý Trác Hiền vài ngày trước.

“Aha, hiểu rồi.”

Phía trên đỉnh đồi Po Sơn sau lầu có một công trình kiến trúc cổ hình lầu thành. Nền tầng được xây dựng bằng đá sa thạch đỏ, cao 7 mét, có lối đi ở giữa, hình dạng giống như cửa thành, trên đó có mái hiên lớn, tạo thành một gian thất rộng rãi, uy nghiêm và đơn giản. Còn có một cái chuông lớn được treo trên tầng. Chuông cao bằng hai người, đường kính hơn 2 mét, trông rất nặng, nhưng điều đáng ngạc nhiên là chuông này chỉ được treo bằng một sợi dây mây.

Thấy Phú Mạng ngạc nhiên, Thái Hàn Đường giải thích: “Theo truyền thuyết, sợi dây mây này có liên quan đến Lý Động Bình: Ngày xưa, có một quan lớn đi qua đây trong lúc đang ngồi trong kiệu, sợi dây buộc thanh kiệu bị đứt, ông ta bảo người khiêng kiệu phải tìm được sợi dây mới để buộc lại trong vòng nửa giờ. Khi người khiêng kiệu đang lo lắng tìm dây, bỗng nhiên thấy một người già đi ngang qua. Người già chỉ vào một sợi dây mây trên vách đá và nói: ‘Có thể dùng sợi dây đó.’ Người khiêng kiệu thấy sợi dây mây quá mảnh và ngắn, nghĩ rằng người già đang đùa cợt mình. Nhưng bỗng nhiên người già biến mất, và người khiêng kiệu mới nhận ra mình đã gặp một vị tiên, liền vội vàng kéo sợi dây mây đó để buộc kiệu. Kỳ lạ thay, sợi dây mây càng được kéo thì càng dài, cho đến khi thanh kiệu được buộc chắc chắn thì sợi dây mới hết. Khi đến trạm việc, người khiêng kiệu nhìn kỹ và thấy ở cuối sợi dây có khắc ba chữ ‘Lý Động Bình’, lúc đó anh ta mới nhận ra đó chính là sợi dây tiên do Lý Động Bình ban tặng. Sau này, khi xây dựng Đền Ngũ Tiên và tháp chuông lớn, họ cần tìm sợi dây để treo chiếc chuông. Người khiêng kiệu liền đem sợi dây tiên đó ra, và sợi dây mây mảnh manh ấy đã giúp treo chiếc chuông đồng nặng hàng nghìn kilogram một cách vững chắc.” Mọi người đều không tin vào truyền thuyết về Lý Động Bình, nhưng sự thật là một sợi dây mây đã có thể treo được chiếc chuông nặng đó.

Phú Mạng không nhịn được mà đập vào chiếc chuông một cái, tiếng vang rất lớn, và cái giếng vuông ở dưới miệng chuông cũng bắt đầu rung chuyển. Khi Phú Mạng định đập thêm vài cái nữa, Thái Hàn Đường đã ng

1/1 0%