lore

Chương 1959: Việc áp dụng máy phân loại

9,959 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhưng “tài sản” là một khái niệm rất rộng lớn. Xét về thời không gian này, từ đất đai, nhà cửa cho đến đồ cổ, quần áo quý giá, trang sức, thậm chí cả nô lệ bán thân, tất cả đều có thể được coi là “tài sản”. Đối với các cửa hàng, những dụng cụ kinh doanh như quầy hàng, cân đong… cũng được xem là tài sản.

Việc định giá từng món đồ một cách chi tiết là điều gần như bất khả thi đối với hệ thống thuế của Viện Nguyên lão. Thứ nhất, họ thiếu nhân viên kế toán có trình độ; thứ hai, việc định giá nhiều loại tài sản cũng không có tiêu chuẩn cụ thể – ví dụ như những bức tranh, đồ chơi, đồ cổ mà các gia đình giàu có thường sở hữu… Về mặt lý thuyết, chúng đều rất có giá trị, nhưng lại rất khó để định giá bằng số tiền cụ thể.

Chính những điểm không chắc chắn này đã tạo ra cơ hội cho việc lạm dụng quyền lực. Các thành viên của Viện Nguyên lão không thể làm mọi việc bằng chính tay mình; đồng thời, cũng không thể tin tưởng hoàn toàn vào đạo đức của các công chức người nhập cư hay khả năng chống tham nhũng của tổ chức Cheka.

Sau nhiều suy nghĩ và tham khảo ý kiến của các chuyên gia tài chính, Ái Chí Tân quyết định trong việc định giá tài sản, sẽ tập trung vào các loại tài sản bất động sản như cửa hàng, biệt thự, rừng núi, đất nông nghiệp… Những tài sản này không dễ dàng bị giấu đi, thị trường có giá giao dịch rõ ràng để tham khảo, và dữ liệu định giá cũng có tiêu chuẩn cụ thể. Đặc biệt là đối với đất đai và nhà cửa, việc đăng ký tài sản ở Đại Minh đã được thực hiện một cách khá đầy đủ; mỗi khi Viện Nguyên lão tiếp nhận một thành phố mới, họ đều tiến hành đăng ký lại tài sản và cấp giấy chứng nhận sở hữu, vì vậy thông tin về quyền sở hữu nhà đất khá đầy đủ. Đây là cơ sở hợp lý để tính thuế.

Đối với đất nông nghiệp và rừng núi, thông tin đăng ký cũng khá rõ ràng. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn ngoại ô Quảng Châu, việc “đo đạc đất đai” đã được triển khai, các loại đất nông nghiệp đều được đăng ký lại; sau khi những thông tin này được công bố, không chỉ việc thu thuế nông nghiệp được đảm bảo, mà việc tính thuế tài sản bất động sản cũng có thể được tiến hành.

Nô lệ cũng được coi là một loại tài sản; vì vậy, khi thu thuế tài sản, giá trị của họ được tính dựa trên giấy chứng nhận sở hữu và được tính vào tổng giá trị tài sản.

Theo nguyên tắc “kết hợp kiểm soát với thu thuế”, Viện Nguyên lão còn quyết định áp đặt thêm “thuế nuôi nô”, bãi bỏ các điểm miễn thuế đối với việc nuôi nô trước đây, và thu thuế dựa trên số lượng nô lệ. Đồng thời, nguyên tắc thuế pro-rata v

Tài sản bất động cộng với tài sản lưu động được ước tính sẽ tạo thành tổng tài sản.

Mức thuế là 1% trên tổng giá trị tài sản đối với các thương nhân lớn có tài sản từ một mức nhất định trở lên; đối với các đại điền chủ thì mức thuế là 0,5%; còn đối với các hộ gia đình giàu có, thương nhân nhỏ bình thường thì mức thuế là 0,2%.

Đối với những hộ gia đình có tài sản bất động cộng dưới một mức nhất định, chỉ áp dụng mức thuế đầu người mang tính biểu tượng.

Thuế nông nghiệp là một loại thuế đặc biệt trong hệ thống thuế tài sản. Về cách thực hiện thuế này, hệ thống thuế tiến bộ đã được bãi bỏ, thay vào đó áp dụng mức thuế cố định dựa trên diện tích đất đai. Thuế chủ yếu được tính dựa trên số lượng lương thực và các loại cây trồng khác.

Về việc thu thuế nông nghiệp, ở Hải Nam đã có một hệ thống khá hoàn thiện; Ái Chí Tân không cần phải quá lo lắng, chỉ cần tuân theo các quy định hiện hành là được.

Loại thuế thứ hai là thuế lưu thông,

Chủ yếu bao gồm các khoản thuế như thuế xuất nhập khẩu, phí kiểm tra khi vào cửa hàng, thuế tiêu dùng, v.v.

Thuế lưu thông được chia thành hai nhóm chính: Một là mức thuế cơ bản tương tự như thuế xuất nhập khẩu, được áp dụng tại các cổng thành, bến phà, cầu đường và các tuyến giao thông quan trọng khác. Mọi hàng hóa muốn được bán trên thị trường đều phải chịu mức thuế 5% khi nhập cảnh; trước khi bán ra thị trường, hàng hóa phải qua kiểm tra ngẫu nhiên để đảm bảo an toàn. Những hàng hóa không qua kiểm tra sẽ bị coi là hàng hóa bất hợp pháp, và người mua lẫn người bán đều sẽ bị phạt nặng nếu có vấn đề về chất lượng.

Nhóm thứ hai là các loại thuế đặc biệt áp dụng cho các thị trường bán buôn hàng hóa lớn, như gạo, muối, trà, gia vị, gỗ, rượu, thịt, rau củ, sản phẩm thủy sản, v.v.; thuế này được tính dựa trên giá trị của hàng hóa và được áp dụng tại các thị trường bán buôn lớn.

Thông thường, tổng mức thuế lưu thông mà các hàng hóa phải chịu không vượt quá 20% so với giá trị tại địa phương. Các điểm thu thuế và thị trường đều cung cấp hóa đơn thuế như bằng chứng để tránh việc thu thuế trùng lặp. Đối với các cửa hàng kinh doanh những mặt hàng thiết yếu mà nguồn cung khan hiếm, sẽ được áp dụng chính sách miễn thuế hoặc mức thuế thấp.

Loại thuế thứ ba là thuế in dấu. Thực tế, thuế in dấu cũng thuộc loại thuế trực tiếp. Tuy nhiên, mức thuế này tương đối nhẹ hơn, và số tiền thu được cũng không thể quá cao. Ái Chí Tân dự định áp dụng thuế in dấu đối với các giấy phép kinh doanh; mỗi cửa hàng sẽ phải nộp một khoản tiền cố định hàng năm để thu thuế in dấu. Số tiền này được sử dụng để chi trả cho việc kinh doanh và đồng thời để đảm bảo việc giám sát các hoạt đ

Việc thu thuế trực tiếp khá phức tạp, chi phí thu thuế cao và gánh nặng thuế quá lớn, có thể làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, nhưng cũng mang lại lợi ích trong việc điều chỉnh sự chênh lệch giàu nghèo, vì vậy vẫn cần phải áp dụng một số biện pháp thu thuế này.

Nguyên tắc tổng thể về thuế là: cải cách hệ thống tiền tệ được ưu tiên hàng đầu, sau đó mới đến vấn đề thuế. Sử dụng việc thu thuế để thúc đẩy quá trình cải cách tiền tệ, đồng thời buộc các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại cũ, cùng những người có thu nhập cao, phải áp dụng hệ thống kế toán hiện đại và hoàn thiện sổ sách kế toán của mình.

Khi thu thuế, chỉ thu tiền tệ hợp pháp và một số hàng hóa thực tế (như thuế nông nghiệp), không thu bạc vụn, đồng xu hay các loại hàng hóa khác từ các cửa hàng.

Trong việc thu thuế tài sản, ban đầu sẽ áp dụng mức thuế linh hoạt, sau đó nếu người nộp thuế yêu cầu xem xét lại, số thuế đã thu thừa có thể được hoàn trả. Khi hoàn thuế, chỉ cần người nộp thuế cung cấp thông tin kế toán liên quan như tài sản, giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, sổ sách kế toán để chứng minh rằng họ đã bị thu thuế quá mức; ngay cả khi họ có che giấu thông tin, số thuế thừa vẫn sẽ được hoàn trả. Điều này nhằm khuyến khích các doanh nhân, người có thu nhập cao tích cực cung cấp thông tin kế toán về tài sản, doanh thu bán hàng, v.v., trong quá trình xin hoàn thuế.

Khi hoàn thuế, người nộp thuế sẽ được hưởng một khoản lãi suất nhất định, và số tiền hoàn thuế sẽ được thanh toán bằng tiền tệ hợp pháp, chủ yếu thông qua việc phát hành các phiếu tiền lưu thông. Mục tiêu là đảm bảo hệ thống tiền tệ mới – bao gồm bạc đô la và phiếu tiền lưu thông – được ổn định và dễ sử dụng. Thực tế, việc phát hành tiền tệ hợp pháp còn bao gồm cả thuế đúc tiền, và mức thuế này cao hơn nhiều so với các loại thuế khác.

Để nuôi dưỡng ý thức về nghĩa vụ nộp thuế, tất cả người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên, bất kể nam hay nữ, đều phải nộp thuế đầu người. Mức thuế đầu người khá thấp; người nộp thuế tự mua vé thuế và dán nó vào phía sau giấy tờ tùy thân của mình. Khi kiểm tra giấy tờ, nếu không có vé thuế thì coi là trốn thuế.

Ái Chí Tân biết rằng hệ thống thuế mà ông ta đã đơn giản hóa đến mức tối đa vẫn còn nhiều vấn đề, đặc biệt là trong quá trình thực hiện, vẫn còn nhiều chi tiết cần được quy định rõ ràng. Sau khi suy nghĩ kỹ, ông quyết định đưa vấn đề này ra thảo luận tại cuộc họp của các bậc trưởng lão ở Thành phố Quảng Châu – dù sao thì việc lấy ý kiến của nhiều người trong thực tiễn cũng t

Một khi hệ thống thuế mới được triển khai trên diện rộng, những mâu thuẫn xã hội trong Thành phố Quảng Châu chắc chắn sẽ trở nên gay gắt hơn. Kể từ khi tiến vào thành phố, bầu không khí hòa thuận và vui vẻ giữa Viện Nguyên lão và người dân Quảng Châu có lẽ sẽ không còn nữa.

  Tuy nhiên, hiện tại, dù là ở trung ương hay địa phương, mọi người đều chi tiêu mạnh tay. Mới đây, Thị trưởng Lưu đã thu được một khoản tiền lớn nhờ việc đóng cửa các cơ sở y học nha khoa và trừng phạt những hành vi ma thuật. Mặc dù sau đó dịch bệnh dịch hạch đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách, nhưng hiện vẫn còn một số dư, vì vậy Ái Chí Tân vẫn có thời gian để từ từ thực hiện và sắp xếp lại hệ thống thuế. Khi “con bò sữa” Quảng Châu đã nằm trong tay Viện Nguyên lão, tất nhiên không có lý do gì để không tận dụng nó một cách triệt để. Theo ước tính của các quan chức tại Ngũ Đạo Khẩu, tiềm năng nộp thuế của Quảng Châu là rất lớn.

  Tuy nhiên, điều khiến Ái Chí Tân cảm thấy khó khăn hơn là những khu vực ngoài Quảng Châu. Bởi vì ông không chỉ là Giám đốc Cục Tài chính-Kinh tế của Quảng Châu mà còn là ủy viên tài chính-kinh tế của khu vực Guangdong.

  Là nguồn thuế lớn thứ hai của Đại Minh, Guangdong dưới sự cai trị của Viện Nguyên lão chắc chắn phải đóng góp nhiều thuế hơn nữa. Nhưng Quảng Châu, thậm chí cả khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang, vẫn dễ quản lý hơn, bởi đây là nơi tập trung nhiều quan chức Viện Nguyên lão và người dân đã quá đổi sang Đại Minh nhất. Mặc dù mức độ quản lý ở đây chưa bằng Hải Nam, Đài Loan hay Jeju, nhưng so với toàn bộ Đại Minh thì vẫn tốt hơn nhiều.

  Nhưng khi ra khỏi khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang, hiệu quả quản lý của Viện Nguyên lão giảm sút đáng kể. Hệ thống thuế mà Ái Chí Tân đề xuất có thể áp dụng được một cáchmiễn cưỡng tại các huyện, còn thuế nông nghiệp thì có thể dựa vào hệ thống thu thuế lúa gạo trước đây, còn những loại thuế khác thì gần như không thể thực hiện được.

  Sau nhiều suy nghĩ, Ái Chí Tân quyết định áp dụng hệ thống thuế khoán tại những khu vực mới này, nơi cơ sở hạ tầng quản lý còn yếu kém.

  Hệ thống thuế khoán, theo đó, nhà nước giao việc thu thuế cho người đấu thầu có giá cao nhất; người này chỉ cần trả một khoản tiền cố định cho nhà nước trước khi bắt đầu hoạt động thu thuế, và phần thu nhập còn lại sẽ thuộc về họ. Hệ thống này có lịch sử lâu dài, và trước thế kỷ 19, nó là phương thức thu thuế chính được nhiều

1/1 0%