lore

Chương 1673: Kế hoạch năm năm lần thứ hai

9,761 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Mã Thiên Chú nghĩ rằng kẻ luật sư này lại đang quảng bá cho triết lý “quản lý đất nước theo pháp luật” của mình nữa, và anh ta nói: “Như vậy không tốt chút nào đâu. Triều đại Đại Minh vẫn còn tuyên bố rằng hoàng tử phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm như người dân bình thường mà; việc ghi rõ điều này trong các điều khoản của pháp luật e là khó có thể được chấp nhận được.”

“Thưa Đốc công, chính xác là phải như vậy mới đúng. Muốn quản lý đất nước theo pháp luật thì phải có những quy định rõ ràng để áp dụng. Trước đây, chúng ta đã có quá nhiều điểm trong pháp luật chưa được làm rõ, tạo ra nhiều khoảng trống để lợi dụng quyền lực, điều này hoàn toàn trái với tinh thần của việc quản lý đất nước theo pháp luật.”

Mã Thiên Chú nói: “Tôi không phản đối việc sử dụng các điều khoản pháp luật để làm rõ điều này, nhưng tôi lo lắng liệu việc đưa câu này vào mỗi bộ luật có thực sự phù hợp không? Tôi nghĩ rằng quy định liên quan đến địa vị của các thành viên Viện Nguyên lão nên được đưa vào Hiến pháp là đủ rồi; không cần thiết phải ghi chú trong từng bộ luật riêng biệt – nói thật, các bạn còn chưa soạn thảo Hiến pháp nữa đấy phải không? Bản ‘Chương trình chung’ này chỉ có thể được coi là điều lệ nội bộ của đảng, không thể đánh đồng với Hiến pháp được!”

“Tôi cũng nghĩ rằng nên làm như vậy. Nếu không, những người nhập tịch sẽ cảm thấy tò mò về nội dung của ‘Chương trình chung’ này mà. Hơn nữa, sau ba năm, năm mươi năm nữa, những điều khoản này sẽ rõ ràng là điều kích động những người nhập tịch – khiến họ ghét bỏ chúng ta. Ngay cả những quy định không được coi là điều khoản pháp luật như ‘Quy định về quyền lợi đặc biệt’ cũng đã bị mọi người chỉ trích suốt nhiều thập kỷ rồi,” Ngô Nam Hải phát biểu. “Chúng ta vừa nói về sự bình đẳng giữa mọi người, vừa công khai tuyên bố rằng các thành viên Viện Nguyên lão cao quý hơn người dân bình thường, muốn họ được tôn trọng mãi mãi… Điều này không chỉ mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng mà còn tạo điều kiện cho phe đối lập trong tương lai. Câu nói của Khổng Tử với nhiều ý nghĩa khác nhau như ‘Hình phạt không áp dụng cho quan lại cao cấp, lễ nghi không áp dụng cho người dân bình thường’ cũng đã bị mọi người lấy ra để chỉ trích ông ấy. Nếu chúng ta đặt ra quy định về sự bình đẳng đặc biệt cho các thành viên Viện Nguyên lão, ngoài việc tạo ra mục tiêu để người nhập tịch chỉ trích ra, thì điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Theo tôi, ngay cả trong Hiến pháp cũng không nên ghi nhữ

Trừ một số thiết bị và công nhân cần thiết để duy trì hoạt động sửa chữa tàu thuyền và sản xuất nhỏ quy mô, phần còn lại của nhà máy đóng tàu Hiện Bác đều được chuyển đến Đảo Hồng Kông để thành lập nhà máy mới. Ngoài ra, các nhà máy như nhà máy kính Lâm Cao và nhà máy gốm sứ – nơi tiêu tốn nhiều than đá và phụ liệu nguyên liệu phải được vận chuyển từ bên ngoài; nhà máy giấy cần rất nhiều rơm và nước; cùng với nhà máy chế biến gỗ phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu – cũng sẽ được chuyển toàn bộ đến huyện Qiongshan.

Như vậy không chỉ có thể tận dụng khả năng vận chuyển của cảng Hải Khẩu mà còn giúp giảm mật độ dân số phi nông nghiệp ở huyện Lâm Cao, giảm bớt áp lực về nhà ở, đồng thời cũng thuận tiện cho việc cung cấp nguồn thực phẩm trong khu vực: cả Qiongshan và Văn Xương đều là những huyện nông nghiệp lớn.

“Tôi không phản đối việc chuyển đi, chỉ là những nhà xưởng và lò nung không thể di dời được thật đáng tiếc,” Trình Đống tỏ ra hơi tiếc nuối.

“Thực ra cũng không có gì đáng tiếc cả. Hầu hết những lò nung đó đều được xây dựng một cách vội vàng, tiêu chuẩn kém và tiềm ẩn nguy hiểm lớn. Những nhà xưởng còn lại vẫn có thể được sử dụng bởi các nhà máy khác,” Triển Vô Dã thì không mấy quan tâm, “Hơn nữa, sau vài năm sử dụng, dù chưa đến hạn thay thế nhưng cũng cần được sửa chữa lớn. Thật là tốt khi tận dụng cơ hội này để nâng cấp công nghệ.”

Sau đó, họ tiếp tục thảo luận về một số chi tiết liên quan đến kế hoạch phát triển ở đại lục, và cuối cùng là về việc sắp xếp cho các bậc lão thành xuống nông thôn để tiến hành khảo sát thực tế.

“Nguyên tắc chung là những bậc lão thành làm việc tại các doanh nghiệp công nghiệp và khai thác khoáng sản không cần phải tham gia các chuyến khảo sát này; họ chủ yếu sẽ thực hiện các chuyến “tham quan” và kết thúc trong vòng ba ngày. Các bậc lão thành thuộc bộ phận hành chính sẽ được chia nhóm để tiến hành khảo sát xã hội, kéo dài trong một tuần; nếu ai có mong muốn và công việc cho phép, họ cũng có thể tham gia lâu hơn. Tử Sơn đã lập danh sách cho các chuyến khảo sát này, rõ ràng chỉ rõ ai sẽ đi đâu, ở lại bao lâu… Mỗi bộ phận cũng cần phải giữ người trực ban…” Mã Thiên Chú nói.

“Mọi người đều phải tham gia sao?”

“Tất cả mọi người đều phải tham gia. Tất nhiên, mỗi bộ phận cần phải sắp xếp người trực ban. Mỗi lần sẽ có khoảng một phần năm số bậc lão thành tham gia khảo sát, mọi người sẽ luân phiên tham gia,” Mã Thiên Chú giải thích, “Chúng ta nên xuống nông thôn để tìm hiểu tình hình thực tế, đừng mã

Chính vào lúc này, khi việc đi đến những nơi xa xôi hơn, có dân số ít hơn được đưa ra để thực hiện các nhiệm vụ, một số bậc trưởng lão cũng bày tỏ sự không hài lòng của mình.

Yun Su Ji nghe nói rằng mình được phân công đến Qiongshan thì rất vui mừng. Trong ba bốn năm qua, ông luôn ở lại Lâm Cao, cả ngày làm việc liên quan đến công tác thủy lợi nông nghiệp, và khi nghỉ ngơi thì lại chìm vào giấc ngủ trong tiếng còi của nhà máy thực phẩm. Thậm chí ông còn chưa từng đặt chân đến Hải Khẩu, vì vậy ông nảy ra ý định đến Qiongshan để tiến hành nghiên cứu thực địa.

Mặc dù ông thuộc Bộ Công nghiệp Nhẹ, nhưng nhờ vào mối liên hệ công việc với nhà máy thực phẩm và việc kiêm nhiệm vai trò kỹ thuật viên nông nghiệp cho tổ chức Thiên Địa Hội, ông có mối quan hệ khá chặt chẽ với lĩnh vực nông nghiệp. Ông đã nhờ Ngô Nam Hải đăng ký một dự án nghiên cứu, nhằm tìm hiểu cụ thể tình hình sản xuất và sinh hoạt của các trang trại quốc doanh và người di cư tại Hải Khẩu, và không ngờ rằng dự án này đã được phê duyệt một cách suôn sẻ.

Trước khi lên đường, ông còn nói với Ngô Nam Hải: “Lão Ngô ơi, chúng ta chắc chắn sẽ làm nên chuyện lớn tại Hải Khẩu.”

Ông đang đề cập đến kế hoạch phát triển nông nghiệp được Bộ Nông nghiệp thiết kế một cách cẩn thận cho đảo Đài Loan và Đảo Hải Nam.

Trong lịch sử, Hải Nam Nông Canh được thành lập vào năm 1952 và là một trong ba trung tâm nông canh lớn nhất cả nước, sau Tân Cương Sản Xuất Xây Dựng Đoàn và Hắc Long Giang Nông Canh. Với tổng dân số 1,05 triệu người, trong đó có 213.000 lao động viên, các cơ sở sản xuất trải khắp các nơi trên đảo Hải Nam không chỉ trồng cao su và trà, mà còn trồng nhiều loại cây trồng kinh tế nhiệt đới khác như dừa, buồn bàng, tiêu, cà phê, cọ dầu, cacao, cọ lúa dầu, điều, dược liệu nam, long nhãn, nhãn, xoài, bưởi, dứa, nho, chanh dây, sầu riêng… cùng với nhiều loại trái cây ngon nổi tiếng khác.

“Đúng vậy, chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống kinh tế dựa trên một loại cây trồng duy nhất, giống như ở Mỹ.” Nghe ông nhắc đến kế hoạch nông canh, Ngô Nam Hải lập tức trở nên hào hứng.

Sau ba năm phát triển, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực nông nghiệp nhận thấy rằng tổ chức Thiên Địa Hội, vốn chuyên cải tiến và nâng cấp nền nông nghiệp truyền thống, đã phát triển một cách ổn định. Mặc dù hệ thống này còn nhiều tiềm năng, nhưng để tiến thêm một bước nữa, cần phải có thêm nhiều nỗ lực và sự chuẩn bị kỹ lưỡng

Ngành nông nghiệp cho rằng: Nền kinh tế nông hội nhỏ có thể giải quyết vấn đề lương thực, nhưng để góp phần vào sự nghiệp chinh phục các vùng đất mênh mông của Viện Nguyên lão, mô hình trang trại mới là hướng phát triển tương lai. Tất cả các trang trại đều được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất sản xuất và sinh hoạt, bao gồm máy móc nông nghiệp và vận tải, hệ thống đường xá, nhà máy chế biến nông sản, xưởng sửa chữa thiết bị nông nghiệp, cũng như cơ sở vật chất giáo dục và y tế. Những cơ sở này là điều mà nền kinh tế nông hội nhỏ không thể sánh kịp. Đối với Viện Nguyên lão, việc họ vất vả đưa người dân đến miền nam không phải là để họ tiếp tục sống như nông dân ở nông thôn, mà là để họ trở thành nguồn lực lao động. Các trang trại do các giám đốc và nhân viên được công ty thuê để quản lý trực tiếp, điều này rõ ràng khác biệt so với các trang trại do cá nhân điều hành. Những người làm việc trong trang trại là công nhân công nghiệp, chứ không phải nông dân truyền thống; họ rất hữu ích cho cả quân đội lẫn chính sách thực dân hóa. Bộ phận nhân sự coi ngành nông nghiệp như một kho dự trữ nguồn lực lao động sau khi các kế hoạch được thực hiện, và lý do cũng nằm ở đây.

Khi bắt đầu chiến dịch đặt chân lên đất liền, họ đã áp dụng mô hình trang trại quốc doanh tại Bách Trĩnh Đàn và vận hành theo hình thức doanh nghiệp. Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế, cho đến ngày nay, những trang trại này – ngoại trừ một trang trại mẫu ở Nam Hải – bao gồm cả các trang trại được xây dựng sau này xung quanh cao đẳng Kao Siong, vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của một trang trại lớn.

Ngoài ra, do chính sách lâu dài khuyến khích “phân công chuyên môn theo doanh nghiệp”, không cho phép “doanh nghiệp quản lý các dịch vụ xã hội”; vì vậy, các cơ sở hỗ trợ cho trang trại vẫn còn nhiều thiếu sót. Mặc dù họ đã thành lập tổ chức Thiên Địa Hội như một giải pháp thay thế, nhưng dưới sự hạn chế này, việc hoàn thiện các cơ sở hỗ trợ cho trang trại quốc doanh vẫn còn là một thách thức lớn.

Điều này cũng là điều mà Ngô Nam Hải luôn quan tâm. Lần họp đại hội này, việc sáp nhập các doanh nghiệp quốc doanh vào Viện Hoạch Định đã giải quyết được vấn đề quyền sở hữu, và không còn đề cập đến chính sách “phân công chuyên môn theo doanh nghiệp” nữa. Việc đề xuất chính sách “sở hữu hỗn hợp” cũng giúp ngành nông nghiệp thu hút được nguồn vốn từ tư nhân, đây chính là cơ hội tuyệt vời để phát triển mạnh mẽ.

Theo ông, việc xây dựng các trang trại ở đồng bằng Tam Hiệp là lựa ch

1/1 0%