lore

Chương 1803: Tầm nhìn xa trông rộng trong kinh doanh

10,059 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thậm chí còn xuất hiện tình trạng số tiền thu được từ thuế không đủ bù đắp cho chi phí thu thuế, đến nỗi một số nơi thậm chí đã ngừng thu thuế thương mại hoàn toàn và sử dụng số tiền thu được từ thuế đất để bù đắp. Thuế thương mại ở Quảng Châu dù không bị hủy bỏ, nhưng cũng gần như không còn tồn tại. Thay vào đó là các loại thuế thương mại do địa phương quy định.

Sau khi quân xâm lược Nhật Bản bị đánh bại, hai cơ quan quản lý tỉnh Minh Việt đã thiết lập các cơ quan thuế độc lập, không thuộc hệ thống thuế thương mại của Bộ Hộ khẩu. Các trạm thuế được đặt tại các điểm qua lại và cầu, mức thuế do địa phương quy định, và số tiền thu được được dùng để trả lương cho quân đội và chi phí phòng thủ địa phương. Vì số tiền này không phải nộp về Bộ Hộ khẩu, nên các cơ quan địa phương rất tích cực trong việc thu thuế. Tuy nhiên, theo quan điểm của Ái Chí Tân, mức thuế thu được vẫn còn rất nhỏ bé, không thể so sánh được với vị thế của những thành phố thương mại phát triển như Quảng Châu. Đặc biệt là khi ông nhìn thấy một thị trấn thuộc Quảng Châu Phủ, số tiền thu được từ thuế thương mại chỉ có vỏn vẹn 170 lượng bạc mà thôi; điều này cho thấy có nhiều vấn đề khuất mắt ở đó. Bởi vì thị trấn đó hàng năm phải nộp cho Viện Nguyên lão một khoản “gánh nặng hợp lý” lên tới 450 lượng bạc.

Tuy nhiên, Ái Chí Tân không coi đây là giải pháp để tăng thu nhập từ thuế. Thuế thương mại thực chất chính là loại thuế phụ, mặc dù việc thu thuế khá thuận tiện và số tiền thu được cũng không nhỏ, nhưng nó ảnh hưởng đến việc lưu thông hàng hóa. Ông đang tập trung vào các loại thuế như thuế cửa hàng, thuế sổ đất và thuế rượu giấm.

Thuế cửa hàng là loại thuế thương mại mà chính quyền địa phương thu từ các cửa hàng thường trú trong thị trấn. Vì trong xã hội cổ đại không có hệ thống kế toán hoàn chỉnh, nên chính quyền không kiểm kê vốn đầu tư và lợi nhuận của các cửa hàng, và thuế này thường được quy định theo một mức cố định. Mức thuế cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào may mắn. Một số ngành nghề có lợi nhuận rất cao – chẳng hạn như ngành cho vay nặng lãi – nhưng chỉ phải nộp một khoản thuế nhỏ khoảng 45 lượng bạc mỗi năm, trong khi các cửa hàng nhỏ trên đường phố lại phải nộp vài lượng bạc mỗi năm.

Ở Quảng Châu, thuế cửa hàng được các hội nghề thu, còn những cửa hàng không thành lập hội nghề thì chính quyền sẽ chỉ định những người đại diện để thu thuế thay họ – và có thể đoán được rằng quá trình thu thuế này chứa đựng nhiều điều không minh bạch.

Ái Chí Tân đã xem xét tổng số thu nhập từ thuế cửa hàng trên toàn bộ khu vực Quảng Châu Phủ và hai huyện, và thấy rằng mỗi năm họ có thể thu được khoảng hơn 10.000 lượng b

Về thuế rượu và giấm, đây là loại thuế được tiếp tục áp dụng từ thời nhà Song sang thời nhà Minh. Trong thời nhà Song, việc độc quyền kinh doanh rượu và giấm là một nguồn thu nhập chính của chính phủ. Tuy nhiên, nhà Minh có trình độ quản lý công thương rất kém, không thể kiểm soát hiệu quả quá trình sản xuất và lưu thông rượu giấm, vì vậy loại thuế này về cơ bản chỉ mang tính hình thức mà thôi.

“Gánh nặng thuế của Đại Minh không phải là quá nặng, mà là quá nhẹ,” Ái Chí Tân đã nói như vậy tại cuộc họp về tài chính khu vực mới ở Ngũ Đạo Khẩu. “Tiềm năng của đất nước vẫn chưa được khai thác hết; việc nói về GDP của Đại Minh cao đến mức nào cũng là vô nghĩa. Nếu xét về hiệu quả bóc lột tài chính, Đại Minh đã là một quốc gia lạc hậu điển hình. Không chỉ so với các quốc gia châu Âu, mà ngay cả so với Nhật Bản ở Đông Á, Đại Minh cũng không bằng.”

Theo quan điểm của Ái Chí Tân, hệ thống thuế của chính phủ nhà Minh nói chung gặp phải nhiều vấn đề về hiệu quả thu thuế; tổn thất trong quá trình thu thuế rất lớn, tình trạng trốn thuế, gian lận và thiếu minh bạch rất phổ biến. Mặc dù có sử dụng nhiều lao động viên “tự nguyện” để thực hiện công việc thu thuế, nhưng chi phí nhân sự ẩn danh thực tế lại cực kỳ lớn.

Việc xây dựng một đội ngũ thuế thuần túy không hề dễ dàng, đặc biệt là khi đội ngũ này còn phải đảm bảo được tính hiệu quả và sự “minh bạch”. Ngay cả trong thế kỷ 21, với các hệ thống pháp lý, quy định và biện pháp kiểm tra nội bộ hiện đại, vẫn có những người xuất thân nghèo khó nhưng sống trong những căn biệt thự xa hoa, lái xe BMW.

Nếu muốn xây dựng một đội ngũ thuế tương đối ổn định theo hệ thống giáo dục và hành chính hiện tại của Viện Nguyên lão, thì điều đó gần như là bất khả thi. Hơn nữa, việc thu thuế trực tiếp còn gặp phải nhiều vấn đề: thứ nhất là tiêu tốn nhiều nhân lực; trước khi thuế nông nghiệp bị bãi bỏ, chi phí hành chính và nhân sự cho việc thu thuế này thường bằng hoặc cao hơn số tiền thu được; thứ hai là dễ dàng làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, bởi vì những xung đột và bạo loạn phát sinh từ việc thu thuế là điều không hiếm gặp ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào; cuối cùng, hệ thống thuế hiện đại dựa trên hệ thống tài chính hiện đại, trong khi các doanh nghiệp ở Đại Minh vẫn sử dụng phương pháp tính toán truyền thống, và những cửa hàng nhỏ thậm chí chỉ sử dụng sổ sách ghi chép thông thường.

Để thực hiện luật thuế mới, cần phải thay đổi hệ thống kế toán, buộc các doanh nhân phải quen với việc thanh toán bằng tiền mặt

Nếu áp dụng cách làm như vậy, thì các mức thuế do cơ quan thuế đặt ra sẽ hoàn toàn mất đi ý nghĩa, bởi vì hoặc là số tiền thuế thu được thấp hơn mức thuế quy định, khiến người kinh doanh tự động nhận lợi ích từ việc này; hoặc là số tiền thuế cao hơn mức quy định, thì thuế sẽ trở thành “gánh nặng” buộc người nộp thuế phải chịu. Vấn đề lớn nhất là: nếu áp dụng cách làm này, chắc chắn sẽ qua sự can thiệp của Hội công thương và các hiệp hội ngành nghề khác, điều này tương đương với việc để những tổ chức này nắm giữ quyền lực thuế, dễ dàng gây ra tình trạng phân bổ thuế không công bằng và hành vi trốn thuế hợp pháp.

Ái Chí Tân cho rằng, mặc dù các cửa hàng ở Quảng Châu không có hệ thống kế toán hiện đại, nhưng đa số các cửa hàng đều sử dụng phương pháp tính toán kiểu bốn cột, và tình hình kinh doanh của họ đều được ghi chép lại trong sổ sách. Hơn nữa, vào thời Minh, dù là chính quyền hay người dân, việc ghi chép và tính toán kế toán đều tuân theo hệ thống này; có rất nhiều người am hiểu về phương pháp này, vì vậy có thể tìm được không ít “thầy kế toán” có sẵn để sử dụng tạm thời.

Tận dụng những đặc điểm này, ông quyết định áp dụng mô hình “báo cáo và nộp thuế theo thực tế, áp dụng mức thuế thấp nhưng hình phạt nặng” để thu thuế, yêu cầu người kinh doanh tự mình báo cáo thuế, và cơ quan thuế sẽ định kỳ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên về tình hình doanh thu và lợi nhuận của các cửa hàng...

Khi Ái Chí Tân đang xem các tài liệu, vài binh sĩ mang vào vài chục cuốn sổ cứng. Một nhân viên báo cáo: “Thưa lãnh đạo, đây là tập tài liệu ‘Thông tin về các cửa hàng ở Quảng Châu’ mà Lãnh đạo Lâm yêu cầu tôi giao cho bạn – xin hãy ký nhận.”

Những cuốn sổ này được Chính quyền thành phố biên soạn dựa trên danh sách do Hội công thương báo cáo và các tài liệu mà Bộ Công nghiệp và Xây dựng thu thập được – trong đó liệt kê đầy đủ tất cả các “cửa hàng có cửa hàng cố định”, từ những thương gia lớn như Cao Cử cho đến các cửa hàng tạp hóa nhỏ ở các con hẻm… không sót ai. Trong đó, thông tin về địa chỉ cửa hàng, phạm vi kinh doanh, tình hình kinh doanh, tên chủ cửa hàng và tình hình tuyển dụng đều được ghi chép rất chi tiết. Ngoài những tài liệu đã được thu thập trước đó bởi Bộ Công nghiệp và Xây dựng, việc thu thập những tài liệu này hoàn toàn dựa vào các công tác hành chính được thực hiện kể từ khi thành phố được thành lập: kiểm tra hộ khẩu, gắn biển số nhà, đăng ký kinh doanh… Nếu không có những công tác ban đầu này, có lẽ Ái Chí Tân cũng sẽ không thể nghĩ ra được những biện pháp mới nào khác ngoài việc dựa vào Hội công thương để ph

Thuế doanh thu không được phân loại cụ thể; nói chung, bất kỳ hoạt động kinh doanh nào dẫn đến việc thu được doanh thu đều nằm trong phạm vi bị áp dụng thuế – tất nhiên, vẫn có những mức và phạm vi được miễn thuế nhất định. Trong số đó, điều quan trọng nhất là việc thu thuế tại các khu vực giao dịch bán buôn mới được thiết lập ở Guangzhou.

Thứ ba là thuế tem; việc thay đổi giấy chứng nhận sở hữu đất đai, các giao dịch hợp đồng đều cần được Viện Nguyên lão xác nhận và bảo vệ theo luật pháp. Các đối tượng bị thu thuế bao gồm giấy phép xuất cảnh cho tàu thuyền, các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đất đai, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà cửa, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phiếu… Tất cả những giấy tờ này đều cần được Viện Nguyên lão bảo vệ bằng quyền lực của mình.

Cuối cùng là các loại thuế phụ trách bởi chính quyền địa phương, được áp dụng trong khâu lưu thông hàng hóa. Sau khi thảo luận với Lưu Tiêng, Ái Chí Tân quyết định áp đặt bốn loại thuế mới: phí vệ sinh đô thị, phí an ninh địa phương, phí xây dựng đô thị và phí giáo dục. Bốn loại thuế này sẽ được chính quyền thành phố Guangzhou sử dụng. Các loại thuế khác đều thuộc về ngân sách quốc gia; sau khi thu thuế, một phần sẽ được hoàn trả lại tùy theo tình hình thực tế.

Về thuế quan, thuế cảng bãi và thuế theo tải trọng tàu thuyền, vì việc này không nằm trong phạm vi trách nhiệm của ông, nên ông chưa đưa ra kế hoạch cụ thể. Đối với việc độc quyền kinh doanh muối và thuốc lá, hiện tại ông cũng chưa có ý tưởng gì đặc biệt, bởi vì theo cách thức độc quyền đã được áp dụng trong thời đại cũ, cần phải có một đội ngũ chuyên nghiệp để thực hiện. Hiện tại, ông thậm chí chưa thể xây dựng đầy đủ cơ cấu thuế vụ, vì vậy việc triển khai hệ thống độc quyền vẫn còn là điều bất khả thi. Vì vậy, ông vẫn tiếp tục áp dụng phương pháp đã được sử dụng trước đây: thu thuế một lần tại nguồn gốc sản phẩm bán buôn, sau đó các đại lý phân phối sẽ tiếp tục phân phối chúng. Còn về việc độc quyền sản xuất lá thuốc lá và muối, vấn đề này thực sự rất phức tạp và cần sử dụng nhiều nguồn lực mà ông, với tư cách là giám đốc cơ quan thuế vụ, không thể kiểm soát được.

Ái Chí Tân đọc qua vài trang sách, và gần như đã nắm rõ tình hình. Lúc này, chính quyền thành phố đã cử một thông tin viên đến thông báo: Thị trưởng Lưu mời ông tham dự cuộc họp.

“Cuộc họp gì vậy?” Ái Chí Tân vừa mới đến thành phố, công việc đang chồng chất, chưa kịp ng

1/1 0%