lore

Chương 1913: Kỳ thi công chức (II)

9,668 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Bây giờ kỳ thi đã kết thúc, những gì còn lại chỉ là phụ thuộc vào số phận mà thôi. Viên Thư Tri biết rằng từ xưa đến nay, người ta vẫn luôn cho rằng việc thành công trong học vấn không phụ thuộc vào tài năng cá nhân, dù bạn có hiểu biết sâu rộng đến đâu, dù bài viết của bạn có tuyệt vời đến mấy, cuối cùng vẫn không thể vượt qua được yếu tố “may mắn”.

Tỷ lệ trúng tuyển trong các kỳ khoa cử thời Minh thấp đến mức đáng kinh ngạc; nếu nói rằng việc trở thành sinh viên thông thường cũng chưa quá khó khăn, thì tỷ lệ trúng tuyển trong kỳ “hương thí” – bước đầu tiên để bước vào tầng lớp quý tộc – lại còn thấp hơn nữa, chỉ khoảng 4%. Từ năm Long Khánh thứ nhất (1567) cho đến cuối triều đại Minh, tỷ lệ trúng tuyển trong kỳ hương thí tại 12 tỉnh như Phúc Kiến và Quảng Đông chỉ đạt 3,1%.

Thực ra, con số này chỉ là tỷ lệ trúng tuyển đối với những người tham gia kỳ thi mà thôi. Bởi vì số lượng học sinh trong toàn tỉnh quá đông, nên trước khi tham gia kỳ hương thí, họ phải trải qua những kỳ thi sàng lọc. Một số trường học danh giá nắm giữ một số lượng lớn suất tham gia kỳ hương thí, điều này càng làm giảm khả năng tham gia của những học sinh bình thường. Sự cạnh tranh khốc liệt này khiến việc trở thành người đỗ cử nhân, tiến sĩ trở thành điều mà đa số người học đều chỉ có thể mơ ước mà thôi. Ngoài việc coi việc đỗ hay không là do “số phận”, thì không còn cách nào khác.

Cha mẹ của Tăng Quyển cùng với cháu trai của họ đang đợi bên ngoài trường thi. Vì đứa trẻ còn nhỏ, họ không dám đến những nơi đông người, nên đã đợi ở xa. Khi thấy họ bước ra ngoài, Mỹ Nữ đã vui mừng chạy đến đón. Cả gia đình quây quần bên nhau, hỏi thăm sức khỏe và trao đổi những lời âu yếm. Viên Thư Tri cũng được hưởng niềm vui này nhờ Tăng Quyển; cô cảm thấy lòng mình tràn ngập biết ơn – bởi vì đã lâu lắm rồi, cô không còn được trải nghiệm tình cảm ấm áp như thế này nữa.

Trở về nhà Tăng Quyển, trong bếp đã sẵn sàng một nồi sò vàng lớn. Ngày hôm sau, họ mua những con sò này từ những ngư dân sống ven biển, chờ đến khi chúng nhổ hết bùn đất ra, sau đó mới ninh chúng trong nồi đồng. Cả gia đình quây quần bên bếp lửa, thưởng thức món canh đặc sánh màu trắng sữa, hương vị thơm ngon lan tỏa khắp không gian. Mẹ của Tăng Quyển cũng chuẩn bị thêm nhiều món ăn nhỏ khác. A Quý cũng đến dự bữa tiệc và mang theo hai chai rượu “quả tử” sản xuất tại Lâm Cao. Những chai rượu này được đựng trong chai thủy tinh, dung dịch màu vàng nhạt, trông rất sang trọng. Người ta nói

Lúc này, Viên Thư Tri trong tình trạng hơi say, nhìn thấy mọi người đang đổ mồ hôi hết cỡ vì ăn thịt chăm chỉ, bỗng nhiên anh nhớ đến cha mẹ đã qua đời từ lâu. Cảm giác này đã quá lâu rồi anh không trải qua, và lòng anh tràn ngập nỗi đau xót. Nhưng anh cố gắng kìm nén lại. Lúc này, ông Tăng Quyển đưa chiếc cốc rượu đến và nói: “Anh trai, chúng ta cùng uống một ly đi. Rượu này thật ngon đấy! Anh thực sự phải cảm ơn em, nếu không có em Tăng Quyển, e rằng anh sẽ không chăm chỉ đến thế.”

“Không đâu, em Tăng Quyển thông minh lanh lợi, chính anh mới nên cảm ơn em.” Nói xong, anh liền uống hết cốc rượu.

Sau khi ăn xong thịt hàu, phần nước dùng còn lại ở đáy nồi được dùng để làm mì nước dùng hàu. Mẹ của Tăng Quyển luộc một ít mì, mỗi người được phục vụ một bát nhỏ, và mọi người đều thưởng thức một cách ngon lành.

Đêm hôm đó, Viên Thư Tri không mơ gì cả. Anh cảm thấy mình đã tìm lại được một cảm giác đã lâu không có: cảm giác của “gia đình”.

Những ngày chờ đợi luôn rất khó chịu. Trong thời gian chờ kết quả thi, Viên Thư Tri không chỉ một lần mơ thấy mình trượt thi, sau đó lại quay trở về ngôi chùa hoang để tiếp tục sống bằng những việc ăn trộm nhặt nhạnh. Bây giờ, anh đã tỉnh ngộ và cảm thấy xấu hổ về những hành động của mình trong quá khứ. Nhưng sau khi đọc một số sách về nước Úc, anh cũng hiểu ra rằng những ngày đau khổ ấy không phải do chính mình gây ra, mà là do bọn giả Minh đáng ghét đã khiến anh rơi vào tình cảnh đó. Mỗi khi nghĩ đến điều này, sự oán hận của anh đối với gia đình giả Minh càng tăng thêm.

Trước khi công bố kết quả thi, Viên Thư Tri cũng không ra ngoài, mà hàng ngày đều ở nhà Tăng Quyển đọc các loại sách về nước Úc để giết thời gian. Điều này cũng coi như là một phần của việc ôn tập, bởi vì nếu anh vượt qua được “kỳ thi viết”, thì sẽ có “kỳ thi phỏng vấn”. Theo những gì được ghi trong sách hướng dẫn, kỳ thi phỏng vấn này không có phạm vi cụ thể, mà chủ yếu đánh giá dựa trên kinh nghiệm sống, khả năng giao tiếp xã hội và khả năng ứng biến trong các tình huống thực tế của thí sinh.

Để chuẩn bị cho những kỹ năng này, việc có nhiều kinh nghiệm sống là một yếu tố quan trọng, còn việc đọc sách nhiều cũng là điều cần thiết. Đặc biệt là đối với những người mới đến nước Úc như họ, họ vẫn chưa hiểu rõ ràng về hệ thống kỳ thi khoa cử này, nhưng việc đọc nhiều sách về nước Úc chắc chắn sẽ giúp họ phù hợp với yêu cầu của các giám khảo.

Viên Thư Tri rất thích các loại tiểu thuy

Người ta nói rằng tổ tiên của Cao Tuyết Tần từng là quan lớn của triều đại Đại Tống, nhưng sau sự kiện Yamen Shan, họ phải lang thang đến Úc và sống trong cảnh nghèo khó suốt nửa đời sau. Nhờ vào kinh nghiệm dày dặn mà ông đã viết nên tác phẩm vĩ đại này. Tuy nhiên, nhiều chi tiết và câu chuyện trong sách rõ ràng không thuộc về triều đại Tống hay Đại Minh; ngược lại, các địa danh như Giang Ninh được sử dụng khá thường xuyên, có thể coi đó là “ngôn ngữ giả mạo”. Có lẽ tác giả đã cố tình tránh đề cập đến những sự kiện liên quan đến triều đại mình đang sống, và đã dùng những ngôn từ giả để che giấu điều đó.

Cũng có tin đồn rằng Cao Tuyết Tần thực ra là bí danh của Văn Chủ tịch; những người như Văn Chủ tịch đều xuất thân từ gia đình quan lại ở Úc, nhưng do thất bại trong các cuộc đấu tranh chính trị, họ buộc phải rời bỏ đất nước và trên đường trở về, Văn Chủ tịch đã viết nên tác phẩm bất hủ này. Tất nhiên, đây chỉ là những lời đồn đại và không nên được coi là sự thật.

Viên Thư Tri say mê cuốn “Hồng Lâu Mộng” đến mức sách gần như bị rách hết. Mỗi khi đọc đến câu thơ tự thuật của tác giả: “Tràn trang lời hoang đường, một nắm nước mắt đắng cay. Mọi người đều nói tác giả điên rồ, ai hiểu được hết ý nghĩa ẩn sau đó?” mắt ông luôn không khỏi ứa lệ. Còn khi đọc đến những câu như: “Giống như con chim khi no đã bay về rừng, để lại một mảnh đất trắng xóa, thật sự rất yên bình…”, nước mắt ông đã ướt đẫm áo. Mỗi lúc như vậy, nếu có Minh Nữ bên cạnh, cô bé luôn hỏi: “Ông tại sao lại khóc vậy?”

Viên Thư Tri vội vàng lau nước mắt và cười nói với Minh Nữ: “Minh Nữ ngốc nghếch quá, ông không khóc đâu. Chỉ là cuốn sách này có vị đắng cay quá, đọc vào thấy lòng cũng đau.”

“Ông đùa à, sách làm sao có vị gì được?!”

“Minh Nữ còn nhỏ, chưa biết đâu. Khi lớn lên sẽ hiểu thôi… À, nhưng đôi khi ông thực sự mong muốn Minh Nữ mãi mãi không lớn lên, để có thể vui vẻ như bây giờ. Thế giới của người lớn ấy… Thôi, đừng nói nữa. Ông sẽ dẫn Minh Nữ ra sân cưỡi ngựa chơi, được không?!”

“Được! Được! Cưỡi ngựa thôi!” Nói xong, Minh Nữ và Viên Thư Tri lại cùng nhau ra sân, tiếp tục những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau.

Trong thời gian đó, vì Viên Thư Tri luôn dành thời gian cho việc chơi đùa với đứa cháu gái hoặc đọc “Hồng Lâu Mộng”, nhiều năm sau, ông đã trở thành một trong những nhà nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng đầu tiên ở Úc. Ông nỗ lực chứng minh rằng tác giả thực sự

Đặc biệt là trong số những người chấm bài, có cả các cán bộ gốc người Hán đã đổi quốc tịch và những cán bộ trước đây là nhà văn cổ điển nhưng sau đó đã đầu hàng. Kinh nghiệm sống, quan điểm cuộc sống và sở thích thẩm mỹ của hai nhóm này đều rất khác nhau.

Để ngăn chặn việc bất kỳ bên nào cố ý loại bỏ những người thuộc phe đối lập hoặc thiên vị người của mình, Trương Nguyện Quý đã áp dụng phương pháp chấm bài xen kẽ: cùng một bài thi sẽ được các cán bộ gốc người Hán chấm một lần và các cán bộ trước đây là nhà văn cổ điển chấm một lần nữa. Nếu điểm số đánh giá của hai bên chênh lệch quá nhiều, thì chính bà sẽ tự mình tiến hành chấm lại. Vào lúc đó, một bài thi đã gây ra nhiều tranh cãi giữa hai nhóm chấm bài.

Bài thi đầu tiên được một cán bộ gốc người Hán, trước đây là nhà văn nhưng không thành công trong con đường học vấn, xem xét. Nhìn thấy những dòng văn lẫn lộn giữa tiếng Hán và tiếng thông thường, anh ta tức giận và nghĩ: “Loại văn kiện như thế này, nói về những điều gì chứ! Văn phong lủng túng, không rõ ràng gì cả, thật là vô nghĩa!” Và anh ta đã đánh cho bài thi này 30 điểm.

Sau đó, khi người cán bộ gốc người Hán chấm bài, anh ta rất hài lòng và nói rằng một bài thi tốt như vậy mà lại chỉ được đánh 30 điểm thật là xúc phạm đến văn hóa. Anh ta quyết định phải đánh cho bài thi này ít nhất 70 điểm.

Khi điểm số chênh lệch quá nhiều như vậy, vụ việc đã gây ra tranh cãi giữa hai bên. Phe người Hán cáo buộc đối phương là những kẻ không hiểu biết gì cả, chỉ biết nói những lời suông sáo để đàn áp người dân; trong khi phe nhà văn cổ điển lại chê bai đối phương là những kẻ thô lỗ, không biết gì cả mà dám đưa ra những ý kiến ngớ ngẩn như vậy. Loại văn bản vô nghĩa như thế mà lại được đánh 70 điểm, thật là đáng lên án! Cuối cùng, vụ việc đã được đưa đến Trương Nguyện Quý để giải quyết.

Khi xem bài thi, Trương Nguyện Quý nhận thấy rằng văn phong tiếng Hán trong bài thi không quá phức tạp, và nói rằng bài viết này không thể được coi là xuất sắc – xét theo trình độ giáo dục ngôn ngữ mà bà đã nhận được, cách diễn đạt trong bài viết thực sự rất kém cỏi – có lẽ đây chỉ là tác phẩm của một Đồng sinh không mấy xuất sắc. Tuy nhiên, nội dung và quan điểm trong bài viết vẫn được coi là khá xuất sắc so với những người thuộc phe nhà văn cổ điển, đặc biệt là những câu như “dưới thuyền thánh, không có sự phe phái riêng tư”… thực sự là những lời nịnh hót rất hay.

Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, Trương Nguyện Quý đã đánh

1/1 0%