lore

Chương 2610: Sang Viên Vây

9,717 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Xấu hổ quá, xấu hổ… Gia tộc chúng tôi đã đặt nền móng tại Xiangshan được ba thế hệ rồi. Nhờ ân huệ của tổ tiên, giờ đây chúng tôi cũng có được một cơ nghiệp nhỏ tại Xiangshan. Tôi cũng mong muốn để lại cho con cháu một gia tài bền vững mãi mãi.”

Lời nói của Trần Ngũ Nhân dĩ nhiên là do ông ta bịa ra, nhưng tình cảm trong lời nói đó thì hoàn toàn chân thành. Có lúc nào đó, ông ta cũng từng mơ ước mình sẽ là người “xây dựng cơ nghiệp cho con cháu”.

Tuy nhiên, thực tế xã hội sau này đã khiến gia đình ông ta tan vỡ, không những không thể “lập nên cơ nghiệp cho con cháu”, mà bản thân ông ta còn suýt mất mạng nữa. Gia đình gần như “tuyệt tục”, và cuối cùng ông ta đã đi theo một con đường hoàn toàn khác.

Mặc dù ông ta đã chọn con đường “phục vụ Viện Nguyên lão và nhân dân”, nhưng sâu thẳm trong lòng, ông vẫn luôn nhớ về quá khứ, vì vậy những lời nói đó thực sự xuất phát từ tận đáy lòng.

Quan Hữu Đức không biết rõ những điều ẩn sau đó, nhưng nghe những lời nói của ông, ông cảm thấy họ có chung chí hướng và trở nên rất thân thiện với ông. Quan Hữu Đức ngưỡng mộ nói:

“Với sự lãnh đạo của ngài, chắc chắn gia tộc Trần tại Xiangshan sẽ phát triển mạnh mẽ và bền vững.”

Khi đã có thiện cảm, Quan Hữu Đức liền kể chi tiết hơn về những thông tin liên quan.

Các huyện như Nam Hải, Shunde, Xiangshan… những nơi gần bờ sông Châu Giang thường được xây dựng các đê đai để chống lũ lụt. Những đê đai này chủ yếu được xây dựng dựa trên những ngon đồi cao, và nông nghiệp ban đầu đã được phát triển trên những vùng đất cao bên trong đê. Bên trong đê vẫn còn nhiều vùng nước. Từ thời Minh Thanh trở đi, xu hướng phát triển là dần dần thoát nước đọng bên trong đê để mở rộng đất canh tác. Do địa hình thấp, tình trạng lũ lụt thường xuyên xảy ra, nên việc đào đất thành ao có thể vừa tận dụng nguồn nước, vừa nâng cao độ đất để trồng cây trồng, giúp giải quyết vấn đề canh tác ở những vùng đất thấp. Đây là lựa chọn được nhiều chủ đất ưa chuộng.

Việc Trần Ngũ Nhân nói đến “đào đất thành ao” còn được gọi là “khắc đá xây dựng”; đây là bước then chốt trong quá trình xây dựng các ao nuôi cá. Phần đất thấp của ruộng lúa được đào sâu hơn để tạo thành “ao”, còn đất đào ra được dùng để xây dựng những “nền đá” thấp hơn mặt đất. Mặt nền đá cách mặt nước khoảng tám thước, mỗi mẫu đất cần từ bốn mươi đến một trăm công lao mới có thể xây dựng xong, với chi phí khoảng mười một đ

Dường như không hề có ý định nào liên quan đến “nhiệm vụ chính trị”. Việc cử các thành viên của Viện Nguyên lão đi tham quan và quảng bá cũng chính là muốn áp dụng mô hình này để đào tạo những “chủ trang trại” mới – xét cho cùng, khu vực Guangdong trong thời gian này vẫn còn rất trống trải; ngay cả những vùng như Châu Bát Giác cũng chưa có khu vực nào thích hợp để phát triển nông nghiệp. Đây chính là điều kiện lý tưởng cho việc xây dựng những trang trại quy mô lớn, áp dụng phương thức canh tác tỉ mỉ.

Trương Tiêu biết rằng Viện Nguyên lão không chỉ có những lý do đơn giản khi tiến hành việc này; điều duy nhất mà anh hiểu được là việc quảng bá những công nghệ đó thực sự không có lợi cho sự phát triển nông nghiệp – nó khiến sản lượng lương thực giảm xuống và làm suy giảm mức sống của người dân.

Do bị hạn chế bởi các loại phân bón trong nông thôn thời cổ đại, tỷ lệ giữa diện tích đất trồng cây dâu và ao nuôi cá ở khu vực Tứ Giang luôn ở mức khoảng 7/8. Nếu tính theo đơn vị 10 mẫu đất, thì 8 mẫu được dùng để trồng cây dâu và 2 mẫu còn lại để nuôi cá; người ta gọi đó là “7 nước, 8 đất”. Trung bình mỗi ao có diện tích khoảng 10 mẫu là đã tối ưu, bởi đó chính là diện tích mà một người lao động có thể quản lý được. Nhỏ nhất cũng từ 11 đến 14 mẫu, còn lớn nhất cũng không quá 77 mẫu.

Chang Phi Kính nói rằng việc cải tạo hàng loạt những cánh đồng có diện tích 10 mẫu, với năng suất cao, sẽ tốn kém hàng trăm lượng bạc; đây chắc chắn không phải là điều mà những gia đình bình thường có thể chi trả nổi. Không lạ gì khi Trần Ngũ Nhân gọi đó là “những biện pháp nhỏ bé”.

Ông chủ nhà họ Trần khi đề cập đến việc cải tạo ao nuôi cá đã tỏ ra khá thờ ơ, rõ ràng là ông hoàn toàn không quan tâm đến vấn đề tiền bạc. Trong lòng Trần Ngũ Nhân, ông Quan Hữu Đức và những người khác thật sự đáng được coi thường; những gia đình như nhà họ Trần, có khả năng chi trả hàng trăm lượng bạc để cải tạo ao nuôi cá, chắc chắn thuộc hàng những gia đình giàu có ở Xiangshan… Thế mà họ lại còn đi kết bạn với những người thuộc tầng lớp nghèo khó như Mạc Ngư… Thật là “khi nghèo thì ai cũng đến giúp đỡ, khi giàu thì không ai quan tâm đến”. Kể từ khi người Úc đến đây, mọi người, dù là người giàu hay người nghèo, đều bắt đầu tìm cách thiết lập mối quan hệ với họ; ngay cả những người thuộc tầng lớp nghèo khó trước đây cũng bắt đầu tỏ ra tự tin hơn trước mặt chúng ta.

Trước đây, Chang Phi Kính thường xem thường những người thuộc tầng

“Vì vậy, cần phải dùng gỗ xây thêm các rào chắn tại nơi chuyển tiếp giữa đáy ao và mặt nước để bảo vệ đáy ao.”

“Làm thế nào để tưới nước vào ao?” Quan Hữu Đức hoàn toàn không hiểu.

“Hehe, ông Trần Ngũ Nhân quả là không biết gì cả,” Trần Ngũ Nhân cười nói, “Việc chọn địa điểm xây ao cũng có những nguyên tắc nhất định. Ao nên được thiết kế sao cho có hai lỗ thông nước để kết nối với dòng sông; lỗ thông ở giữa ao gọi là lỗ thông dưới, còn lỗ thông ở đáy ao gọi là lỗ thông đáy. Những ao gần sông, thuận tiện cho việc thoát nước và tưới nước, được gọi là ao loại ‘đầu ống’; những ao có thể nhận nước từ ao lân cận được gọi là ao loại ‘bảy ống’; những ao không có nguồn nước nhưng lại có lỗ thoát nước được gọi là ao ‘mong trời’; còn những ao không có lỗ thoát nước và cũng không có lỗ thông nước thì được gọi là ao hoang dã. Ao hoang dã chỉ thích hợp để trồng các loại cây như sen, nấm, củ sen… Bùn ở những ao này rất loãng. Nếu muốn nuôi cá, thì ao loại ‘đầu ống’ sẽ thuận tiện hơn, nhưng giá thuê cũng sẽ cao hơn; còn những ao loại ‘bảy ống’, vì không có ao nào chặn trước khi nước trong ao được dùng để đánh bắt cá và vớt bùn ra, nên giá thuê sẽ thấp hơn.”

Quan Hữu Đức mới nhớ ra rằng những ao nuôi cá mà họ đã thấy trên đường đi không hề được xếp thành hàng ngay ngắn như những khối băng, mà giữa chúng có nhiều con sông lớn và nhỏ nối liền với nhau; hóa ra đó chính là lý do tại sao.

“Nhưng việc thoát nước và tưới nước đó được thực hiện bằng phương tiện gì? Phải chăng là bằng máy nước?” Quan Hữu Đức vẫn chưa hiểu rõ. Nếu phải dựa vào sức người để vận hành máy nước, thì chi phí nuôi cá sẽ giảm xuống. Tất nhiên, ông đã từng thấy những chiếc máy quạt nhỏ mà Viện Nguyên lão sử dụng để bơm nước; nếu các nhà lãnh đạo quyết định đầu tư vào những chiếc máy hơi nước để bơm nước, thì chi phí cũng sẽ tăng lên, nhưng điều đó có lẽ sẽ khiến chi phí nuôi cá tăng lên đáng kể.

Trần Ngũ Nhân trả lời: “Đúng vậy, cũng đúng vậy.”

“Ồ?” Cả nhóm đi kiểm tra đều tỏ vẻ bối rối.

“Ông đang giấu điều gì đó đấy. Nói ‘đúng vậy’ là bởi vì mỗi năm vào mùa đông hoặc đầu mùa xuân, người ta luôn phải làm khô ao một lần. Cách thực hiện là trước tiên phải mở lỗ thông đáy để thoát nước ra ngoài; lượng nước còn lại khoảng một thước hoặc vài inch. Lỗ thông đáy chỉ được mở khi cần thoát nước, còn trong những ngày bình thường thì sẽ được lấp kín bằng cành dâu và cỏ già. Sau đó, người ta sẽ đà

Chang Fei Jing đã nhanh chóng giải thích chi tiết cách thay nước cho mọi người nghe.

Các cán bộ của Hội Thiên Địa đều cảm thấy kinh ngạc; họ không ngờ rằng người dân ở làng Tứ Giang lại có thể tìm ra phương pháp duy trì chất lượng nước ao nuôi cá nhờ vào điều kiện tự nhiên, quả thực là họ đã tận dụng triệt để lợi thế thiên nhiên và địa lý.

Nếu suy nghĩ một cách đơn giản, phương pháp này khá giống với những gì chúng ta được học trong các khóa đào tạo của Hội Thiên Địa về chất lượng nước ao nuôi cá; tuy nhiên, kinh nghiệm tích lũy thông qua thực hành thực tế lại mang tính thực tiễn cao hơn so với những kiến thức trong sách vở.

Lúc này, mọi người mới hiểu rõ tại sao mạng lưới sông ngòi ở Tứ Giang lại phát triển đến mức như vậy. Người dân địa phương đã phân loại các con sông dựa trên độ rộng của mặt nước; dòng chính sông Tây cùng các nhánh của nó được gọi là “Hải”, khu vực từ trung tâm làng Tứ Giang đến cửa sông Mò Yến được gọi là “Ngoại Hải”, còn khu vực phía trên Thép Kiệu thì được gọi là “Đông Hải”. Cấp độ thứ bảy được gọi là “Dòng Chảy” và “Kênh”, đó là những con sông có thể liên kết với biển.

Bên trong khu vườn dâu, có nhiều con đê lớn bao quanh, giống như những dải ruy băng, bảo vệ 78 hecta đất trồng dâu và ao nuôi cá, cùng với hơn 7.800 hộ gia đình sinh sống ở đó. Bên trong những con đê này chính là các dòng sông nhỏ, còn bên trong đê là những ao nuôi cá. Dưới đê của các con đê lớn này đều được xây dựng các cổng van để đáp ứng nhu cầu thoát nước và tưới tiêu cho từng khu vực ao nuôi cá; vai trò chính của các cổng van và đê là ngăn lũ vào mùa xuân và hè. Ở khu vực Tứ Giang, ruộng đất nhiều hơn ao nuôi cá, trong các ao không có hào sâu, và những dòng sông nhỏ được đào ra từ trong hào để đảm bảo việc thoát nước và tưới tiêu. Tại các cửa ra vào của các dòng sông nhỏ này, đều được lắp đặt các cổng van để mở hoặc đóng chúng theo thời điểm thích hợp: khi nước trong ao cạn, các cổng van được mở để đưa nước vào ao; khi nước trong ao đầy, các cổng van được đóng để ngăn nước tràn ra ngoài. Vào mùa xuân và hè, khi lũ lụt xảy ra, các cổng van sẽ được đóng chặt bằng những tấm gỗ để ngăn nước lũ tràn vào ao nuôi cá.

“Hào” là những con kênh nước lớn bên trong khu vực ao nuôi cá; những con kênh này được đào ra trong quá trình mở rộng các ao nuôi cá để đáp ứng nhu cầu thoát nước và tưới tiêu hàng ngày. Những con kênh nhỏ do con người đào ra trong khu vực ao nuôi cá này được kết nối với các dòng sông nhỏ, và thông qua những lỗ thông nước lớn trong ao nuôi cá, nước từ các dòng sông nhỏ có thể được d

1/1 0%