lore

Chương 1856: Giải mã chiến thuật

9,774 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sau khi đứng ở cửa tiễn Lương Tồn Hậu đi, Trương Đài không hiểu tại sao lại lắc đầu một cái rồi quay người trở vào trong nhà. Anh nhẹ nhàng lấy ra một bó giấy đã hơi vàng úa từ chiếc hộp sách của mình, sau đó ngồi xuống chỗ cũ.

“Cuốn *Thạch Quy Thư* viết rằng công lao của Hoàng đế Gaozu của triều đại Hán thực sự vượt trội hơn cả Thang Vũ và các vị hoàng đế khác… Công lao của ông ta còn vượt trội hơn cả Yao Shun…” Đây là phần tổng kết của chương ghi về cuộc đời Hoàng đế Gaozu trong tập một của cuốn *Thạch Quy Thư* do chính Trương Đài soạn thảo. Bên cạnh anh, có bản thảo tay của bài giảng “Nhận thức về Nền văn minh Hoa Hạ”.

Người ta nói rằng bản thảo này do Lưu Tiêng – viên quan cai quản tỉnh Quảng Châu – viết ra. Trong nhà họ Lương, có rất nhiều loại “văn kiện của những kẻ xấu xa” như thế này, và Trương Đài cũng đã đọc không ít. Mỗi lần đọc những văn kiện này, anh lại nhớ đến ông Triệu Lão ở Hàng Châu.

Kể từ khi dập tắt cuộc bạo loạn vào dịp Lễ Trung Nguyên, ông Triệu Lão đã trở thành một nhân vật quyền lực ở Hàng Châu. Nhân cơ hội đó, ông còn giúp chính quyền dập tắt cuộc bạo loạn liên quan đến lương thực, từ đó củng cố vị trí của mình tại đây. Là một thành viên quan trọng của tổ chức Phục Xã ở Chiết Giang, Trương Đài thường xuyên có giao tiếp với ông Triệu Lão và được biết đến nhiều thông tin mới mẻ về sách vở và những thứ thú vị khác từ nước ngoài.

“Trong số các vị hoàng đế khai quốc qua các thời đại, Chu Nguyên Chương thuộc nhóm những người ‘được quyền lực một cách chính đáng’. Nếu không bàn về các vị hoàng đế huyền thoại thời Tiên Tần, thì Chu Nguyên Chương đã giành được quyền lực nhờ vào công lao ‘đuổi đánh quân Tát Mãn, khôi phục Trung Hoa’, và ông ta ngang hàng với Tần Thủy Hoàng hay Hoàng đế Gaozu của triều đại Hán… Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết và quá tin tưởng vào sức mạnh bạo lực của nhà nước, trong việc thiết kế hệ thống chính trị, ông ta không chỉ kế thừa một số hệ thống xấu của triều đại Nguyên Mông mà còn tạo ra nhiều sai lầm trong thực tiễn quản lý…”

Bản thân Trương Đài rất ngưỡng mộ Hoàng đế Gaozu; điều này không liên quan đến yếu tố chính trị đúng đắn hay sai trái. Qua cách anh sử dụng ngôn từ trong *Thạch Quy Thư·Chương Ghi về Hoàng đế Gaozu*, người ta có thể cảm nhận được tình cảm sùng mộ mãnh liệt của anh dành cho vị hoàng đế này. Vì vậy, khi đọc đoạn văn này – đoạn đánh giá về Lưu Tiêng và Chu Nguyên Chương – lòng Trương Đài tràn ngập sự ghê tởm.

Anh nhanh chóng lật qua bản thảo của mình; điều anh quan tâm hơn cả là đoạn này: “Nếu ai đó chỉ học theo phương

Trong khi xem đi xem lại nhiều lần, đây đã là lần thứ ba rồi, Trương Đài cảm thấy mình dường như đã phát hiện ra được vài điểm quan trọng. Bản văn này là do một thầy cố vấn được viên quan giả tóc thuê để “đọc” với tâm trạng ngưỡng mộ, sau đó yêu cầu sao chép lại, vì vậy có một số chi tiết chỉ có thể nhận ra được bằng cách xem kỹ lưỡng.

Rõ ràng là câu được “trích dẫn” này đã từng được viết lại một lần trước đó trong đoạn văn trước đó, với cách gọi “Người Úc” hay “Ngôn ngữ mới”. Việc trích dẫn lại câu này là sự lặp lại. Nhưng khi so sánh các dòng chữ, đoạn văn này có lẽ cũng giống như những đoạn khác, là những ghi chú nhỏ mà viên quan giả tóc đã viết vào khoảng trắng giữa các dòng của bài phát biểu. Chỉ là ở vài trang đầu, người sao chép đã rất cẩn thận, thay đổi kiểu chữ để viết những ghi chú này, nhưng ở những trang sau, rõ ràng là những ghi chú đó không được thay đổi kiểu chữ nữa; có lẽ người sao chép đã mệt mỏi và không muốn tốn công sức nữa. Vậy thì câu được “trích dẫn” này thực sự là do viên quan giả tóc viết, hay là do Lưu Đại Phủ nói trong bài phát biểu? Trương Đài suy nghĩ một hồi và cho rằng có lẽ là Lưu Đại Phủ đã nói, bởi vì viên quan giả tóc rõ ràng là không đủ trình độ học vấn; ví dụ, ở đoạn ghi chú được đánh dấu trước đó, chữ “Đậu” của Hoàng hậu Đậu quá khó để viết, nên họ đã viết thành “Bà Đậu Lão Thái”…

Hóa ra đoạn văn này không phải là đã được soạn sẵn trước, mà là Lưu Đại Phủ đã nói ngay tại chỗ… Liệu có thật sự tồn tại chuyện linh cảm giữa hai người không?

Nếu không phải như vậy… thì gia đình Lương gia chắc hẳn đã bị những kẻ giả tóc xâm nhập sâu rộng rồi! Nếu đoạn văn này xuất phát từ chính mình, thì chắc chắn là những kẻ giả tóc đã mua chuộc hoặc dụ dỗ người hầu trong gia đình Lương gia để họ xem qua bản thảo của mình. Hơn nữa, người hầu đó chắc chắn phải có địa vị khá cao, bởi vì họ phải biết đọc biết viết… Hay có lẽ… gia đình Lương gia đã… Trương Đài cảm thấy không nên nghĩ tiếp nữa, vì những suy nghĩ này chỉ khiến bản thân mình lo lắng thôi.

“Ai! Ông Song!” Trương Đài thở dài, nhưng không biết mình đang nghĩ đến điều gì.

Sau khi ăn hết hai miếng bánh mè và uống hết ly trà túi Nhuận Thế Đường, Trương Đài lại ngồi đăm đắm nhìn chiếc cốc sứ do người Úc làm ra.

Trương Đài tự xưng là Tao An, yêu thích đồ cổ và có sở thích sưu tập, am hiểu sâu rộng về đồ gốm sứ. Gia Đình Châu là một gia tộc danh giá ở Shaoxing, được chia thành hai nhánh là Tây Châu và Đông Châu; Trương Đài là cháu trai

Dựa vào địa vị gia đình và tiền bạc cá nhân, Trương Đài đã thuê các thợ gốm già từ Jingdezhen để xây dựng một lò gốm mới. Vẫn còn nhớ lần đầu tiên tiến hành nung gốm, quá trình này kéo dài suốt bốn ngày; họ sử dụng 45.000 cân củi thông loại tốt, trong đó một nửa là củi đã được phơi khô trong hơn ba năm, còn nửa kia thì còn rất ướt. Tuy nhiên, khi mở lò ra, không chỉ có những sản phẩm bị hỏng hoặc nứt vỡ, mà ngay cả những chiếc còn nguyên vẹn cũng không đáp ứng được yêu cầu của Trương Đài. Sau vài lần thử nghiệm, mặc dù số lượng sản phẩm “nguyên vẹn” dần tăng lên, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như ông mong đợi. Do chi phí đầu tư cao, lỗ vốn lớn trong giai đoạn đầu, và triển vọng thị trường chưa rõ ràng, lại thêm việc Trương Đài gặp nhiều khó khăn trong con đường thi cử khoa cử, dần dần gia đình ông bắt đầu bị coi là những người “ham chơi mà quên mất việc học”. Sau khi bị các bậc trưởng thượng chỉ trích nghiêm khắc, dự án sản xuất gốm sứ này cũng bị ngừng lại.

Vậy Trương Đài muốn những chiếc gốm sứ như thế nào? Nếu nói về màu sắc, những chiếc gốm có màu sắc đồng nhất thì màu trắng phải trong trẻo như muối hay tuyết, màu xanh phải giống như ánh sáng của bầu trời hoặc màu nước hồ, màu đỏ phải như màu son đỏ hoặc đỉnh đầu của con hạc; còn những chiếc gốm có men thì lớp nền phải trong trẻo, họa tiết phải tinh xảo, màu sắc phải hòa hợp… Điều Trương Đài không thể chấp nhận nhất chính là những chiếc gốm có mép cứng. Trước đây, khi ông ngắm nhìn các chiếc gốm sứ, điều khiến ông băn khoăn nhất chính là tại sao không có chiếc gốm nào có lớp men phủ toàn bộ bề mặt. Ngay cả những chiếc gốm Sòng do các lò quan sản xuất, được cho là những tác phẩm nổi tiếng được bảo quản trong cung đình, cũng đều có phần mép hoặc đáy không được phủ men, hoặc trên lớp men đáy có những vết nhỏ bằng kích thước hạt mè; điều này hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Trương Đài.

Tuy nhiên, khi ông tự mình bắt tay vào việc nung gốm, ông mới nhận ra rằng việc vẽ tranh trên gốm sứ không hề giống như việc vẽ trên giấy. Thứ nhất, bất luật mục đích sử dụng của gốm sứ là gì, chúng thường có hình dạng tròn, và việc vẽ tranh trên bề mặt cong là điều không hề dễ dàng. Thứ hai, lớp men khá khô cứng, nên nhiều kỹ thuật vẽ tranh thông thường không thể được áp dụng. Thứ ba, màu sắc của lớp men ban đầu và màu sắc của lớp men sau khi nung là hoàn toàn khác nhau; khi vẽ tranh, người ta không thể thấy được k

Nghĩ mãi mà Trương Đài vẫn không thể hiểu nổi làm thế nào mà những chiếc sứ này lại được chế tác ra; huống hồ là chiếc đĩa sứ xương quý hiếm từ lò sứ bí mật của Úc mà anh ta đã thấy trong phòng đọc sách của Lương Văn Đạo – khi soi dưới ánh sáng, người ta thậm chí có thể nhìn rõ bóng tay mình đặt phía sau chiếc đĩa…

Nếu như những kẻ ấy nói đúng, thì họ là những người sống sau trận chiến ở Yamen, đã lập nên một quốc gia ở nước ngoài; còn miền Trung Hoa sau hàng trăm năm hỗn loạn thì lại được Hoàng đế Gao tái thiết… Nhưng hai bên phát triển riêng biệt; nếu xét về lĩnh vực gốm sứ, thì sự tiến bộ của Đại Minh trong hai trăm năm qua đã xa xa tụt hậu so với Áo Tống. Và nếu không coi những điều này chỉ là “những kỹ thuật lạ lùng và phù phiếm”, chỉ nói về đạo đức và văn hóa, thì những bản giải thích Kinh Thánh mà anh ta đã thấy tại Hiệu sách Hoàn Bích ở Hàng Châu cũng đã vượt trội hơn nhiều so với thời đại đó. Tuy nhiên, từ bài giảng của Lưu Đại Phủ, có thể thấy rằng những “bài viết về đạo đức vượt trội hơn thời đại” ấy lại không phải là xu hướng chính của Áo Tống. “Nho giáo đã đưa ra rất nhiều gợi ý tốt về vấn đề tu dưỡng cá nhân; mọi người nếu áp dụng những quan điểm Nho giáo vào việc tự hoàn thiện bản thân và trong giao tiếp xã hội, thì sẽ rất hữu ích cho bản thân và cho xã hội… Nhưng từ góc độ quản lý đất nước, Nho giáo thực chất là ‘lười biếng’, hay nói cách khác là trốn tránh thực tế. Họ đầu tiên giả định một xã hội lý tưởng, đó là xã hội mà ‘mọi người đều là quân tử’, sau đó lại đổ lỗi cho tất cả các vấn đề còn lại vào việc làm thế nào để mọi người đều trở thành quân tử… Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn xã hội, đây là một giải pháp hoàn toàn không thực tế…” Dù lời nói của Lưu Đại Phủ có vẻ cực đoan, nhưng Trương Đài dễ dàng nhận ra thái độ của những kẻ ấy đối với Nho giáo – chỉ là một trong vô số trường phái tư tưởng, giỏi về việc tu dưỡng cá nhân, nhưng không thích hợp để quản lý đất nước.

Không thích hợp để quản lý đất nước! Niềm tự hào lớn nhất của các học giả Nho giáo là dù ai giành được quyền lực, cuối cùng họ luôn mong muốn những người như “Tứ Hoàng Sơn” hay “Chu Gia Lượng” – những người học giả – sẽ đến cai trị đất nước; nhưng Áo Tống lại nói rằng Nho giáo không thích hợp để quản lý đất nước! Họ không chỉ nói ra điều đó mà còn thực hiện nó; họ không chỉ quản lý được lãnh thổ của mình một cách ngăn nắp mà còn được biết rằng trên đảo Qiongya, nơi cách đó bằng

1/1 0%