lore

Chương 947: Trung ương và địa phương (II)

9,785 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Còn đẹp hơn cả những chiếc rây nữa.” Lưu Tiêng nhìn những bản đồ kết quả mô phỏng, lắc đầu. Những bản đồ này đều là kết quả suy luận dựa trên những khu đất có khả năng được bán nhất; điểm chung của chúng là “đầy rẫy những khuyết điểm”. Trên sơ đồ đất canh tác sẵn có của huyện Qiongshan, có những miếng đất nhỏ, những hình dạng bất thường… trông giống như những “tác phẩm nghệ thuật” mang phong cách hậu hiện đại. Dưới mỗi bản đồ còn ghi rõ thông tin thống kê về đất đai, bao gồm tình trạng quyền sở hữu, tình hình kinh doanh, loại đất, cây trồng chính, năng suất trung bình mỗi mẫu…

Vì hiện tại không thể tiến hành khảo sát chi tiết thành phần đất đai, nên mỗi khu đất đều được đánh giá một cách đơn giản dựa trên năng suất trong các năm trước và cảm nhận cá nhân của người kiểm tra: được phân thành bốn hạng: đất cằn cỗi, đất ít sản lượng, đất trung bình và đất nhiều sản lượng. Kết quả suy luận cho thấy, trong số những khu đất có khả năng được bán cho người Úc, đất ít sản lượng chiếm tỷ lệ khá lớn.

Rõ ràng, các chủ đất và nông dân giàu có thường giữ lại những khu đất tốt nhất để tự canh tác hoặc giao cho công nhân làm thuê, còn những khu đất kém hơn hoặc cần nhiều công sức để canh tác thì họ mới cho thuê. Ngay cả khi muốn bán đất, họ cũng ưu tiên bán những khu đất kém hiệu quả này.

Còn những chủ sở hữu những miếng đất nhỏ thì hầu hết đều nhận được đất đó từ việc khai hoang. Vì khả năng tài chính hạn chế, đất đai của họ thường thiếu hệ thống thủy lợi, ít được bón phân, nên tình trạng đất đai nói chung rất kém. Ngay cả khi họ muốn bán đất, Ủy ban Nông nghiệp cũng cần phải đầu tư nhiều công sức để cải tạo chúng.

Rõ ràng, ngay cả khi ý kiến của Ủy ban được thực hiện và người tị nạn cũng tuân thủ quy định giao nộp đất đai của mình, Ủy ban vẫn chỉ có thể nhận được những miếng đất nhỏ lẻ rải rác khắp huyện. Những khu đất này hoàn toàn không thể giúp ích gì cho việc xây dựng những trang trại lớn – việc tích hợp chúng lại với nhau đã là một công việc vô cùng khó khăn.

“Chiếm đoạt đi quá nhiều lao động viên vô sản, rồi lại để lại một mớ hỗn độn như thế này! Thật là thiển cận!” Lưu Tiêng nhìn những kết quả suy luận, tâm trạng càng trở nên tồi tệ hơn, “Làm sao có thể xây dựng được gì như vậy! Chỉ vì kế hoạch xây dựng những trang trại lớn đó, tôi phải mất bao nhiêu công sức để ghép những miếng đất vụn vặt này lại với nhau!”

Như vậy, mâu thuẫn giữa trung ương và địa phương lần đầu tiên đã xuất hiện trong chính quy

Áp dụng chính sách phù hợp với từng giai đoạn lịch sử là quan điểm nhất quán của ông.

“Tập trung không có nghĩa là tập thể hóa, cũng không có nghĩa là phải tập trung đất đai,” ông lẩm bẩm, “Chủ nghĩa giáo điều sẽ giết chết con người.”

Lưu Tiêng cho rằng ở những nơi như Qiongshan, nơi có nhiều nông dân và chủ đất nhỏ, hoàn toàn có thể áp dụng mô hình tương tự như ở Leizhou, tức là hệ thống “hợp tác xã nông nghiệp” theo kiểu Nhật Bản, để tổ chức các hợp tác xã sản xuất và sử dụng các biện pháp kinh tế và công nghệ để hướng dẫn những người sở hữu đất đai thực hiện những thay đổi cần thiết, thay vì vội vàng loại bỏ nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ.

Ông suy nghĩ rất lâu và quyết định viết một số bài báo để trình bày toàn diện quan điểm của mình – kể từ khi đến Qiongshan, do nơi này không thể kết nối với BBS của Líng Gāo, ông đã lâu không truy cập vào đó để tham gia thảo luận về chính sách nữa. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ông không biết gì về những cuộc thảo luận đó. Để đảm bảo rằng tất cả các thành viên Viện Nguyên lão được cử đi ngoại tỉnh đều có thể nắm bắt kịp thời tình hình trong Viện Nguyên lão, theo đề xuất của Tiền Thủy Đình, Văn phòng hàng tuần đều biên soạn tài liệu “Tin tức hàng tuần” dựa trên thông tin trên BBS và nội dung thảo luận của Viện Nguyên lão, sau đó gửi đến tay các thành viên được cử đi. Đồng thời, tạp chí lý thuyết hàng tháng “Ngôi sao bình minh” do Bộ Văn Tuyên biên soạn cũng được gửi kèm theo.

Lưu Tiêng yêu cầu Guo Líng Nhi mang đến cho mình những số gần nhất của “Tin tức hàng tuần”, “Ngôi sao bình minh” và phiên bản nội bộ của Báo Líng Gāo Thời báo – ông đã lâu không xem những “tài liệu nội bộ” này nữa. Việc viết bài báo cũng giống như viết luận văn, cần phải có cơ sở lý thuyết chặt chẽ và nguồn tài liệu đầy đủ. Hơn nữa, ông cũng cần những tài liệu này để nắm bắt xu hướng tư duy hiện tại trong Viện Nguyên lão.

“Hãy xem qua những tài liệu này trước, đánh dấu bằng bút đỏ tất cả các tiêu đề và trang số của các bài viết liên quan đến chính sách nông nghiệp và đất đai, sau đó ghi rõ trang số lại,” ông chỉ đạo Guo Líng Nhi.

Trong khi Guo Líng Nhi thu thập tài liệu cho ông, ông đã tiến hành tìm kiếm và tính toán các dữ liệu khảo sát xã hội trong máy tính của mình, để làm cơ sở lý thuyết cho bản thân.

Sau khi hoàn thành việc tìm kiếm dữ liệu và xem xét các tài liệu liên quan, Guo Líng Nhi đã đánh dấu bằng bút đỏ tất cả những nội dung mà ông yêu cầu. Ông bắt đầu đọc kỹ

Bức thư sau cùng là những lời than phiền gửi đến Ủy ban Thực hiện. Còn bản văn mà anh đang soạn thì là một thông cáo gửi đến Bộ Công nghiệp Nhẹ, trong đó anh đề xuất rằng Bộ này nên chuyển một số ngành công nghiệp sang các khu vực mới được kiểm soát.

“Chỉ có sự so sánh mới có ý tưởng, chỉ có tấm gương mới có động lực,” Lưu Tiêng viết. “Quỳnh Sơn cũng là một cảng biển tốt, nơi đây có thị trường phát triển và nguồn lao động dồi dào, hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất của các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến. Điều này không chỉ giúp giảm bớt áp lực vận tải tại cảng Bác Phủ mà còn giảm bớt gánh nặng cung cấp lương thực cho Lâm Cao; hơn nữa, việc sử dụng nguồn tài nguyên địa phương để chế biến ngay tại chỗ sẽ giúp tiết kiệm chi phí.” Trong bản văn, anh đặc biệt yêu cầu chuyển các doanh nghiệp chế biến dừa và một số ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu gỗ từ Quỳnh Sơn về đây, nhằm “đào tạo tầng lớp công nhân địa phương”.

Sau khi hoàn thành bản văn, anh liền kết nối máy in kim loại 48 kim – một trong những thiết bị cá nhân của mình. Máy in này có ưu điểm là mực in dễ thay thế và cấu trúc đơn giản, bền bỉ. Trong tiếng “rít rít”, ba bản văn quan trọng của anh dần được in ra.

Dù có nhiều mâu thuẫn và than phiền, nhưng những nhiệm vụ đã được giao vẫn cần phải được thực hiện hết sức. Anh không muốn để lại bất kỳ dấu hiệu nào của sự “lười biếng” hay “không nỗ lực”.

“Được rồi, cậu đi thay ca nghỉ ngơi đi, và nhớ gọi ông Lục, Phó Giám đốc, đến đây,” Lưu Tiêng nói với người lính phục vụ đang đổ mồ hôi. Guo Linh Nhi đưa những bản văn mà anh đã soạn vào một folder để mang đến phòng mật mã sao chép, sau đó sẽ theo yêu cầu của Lưu Tiêng chuyển chúng đến các bộ phận tương ứng để phân phát.

Không lâu sau, Lục Thanh, người được coi là Phó Giám đốc phụ trách công tác phụ nữ, đã đến. Lưu Tiêng, với tư cách là một thành viên của Viện Nguyên lão, tự nhiên biết rõ thân phận thực sự của cô ấy.

“Đoàn tham quan hiện đang ở đâu?” Lưu Tiêng ngay lập tức hỏi. Đây là vấn đề mà anh quan tâm nhất trong thời gian gần đây, ngoài việc ứng phó với lũ bão và công tác cứu trợ.

“Đoàn tham quan” do Hải Thú Tổ dẫn đầu, gồm những người con trai ruột của các gia đình giàu có ở Quỳnh Sơn – những người đã “sống sót” qua các cuộc chiến tranh an ninh và các hoạt động đo đạc đất đai ở khu vực phía bắc Quỳnh Sơn.

Việc cho họ đến Lâm Cao tham quan thực chất là một chiến thuật tâm lý truyền thống, nhằm khiến các gia đình giàu có nhận thức rõ

Sau những trận chiến đẫm máu và quá trình đo đạc đất đai, việc mang lại cho những hộ gia đình lớn ngoan ngoãn một chút hy vọng là kế hoạch ban đầu của Lưu Tiêng.

Họ đã đi đến Lâm Cao được hai tuần rồi, lẽ ra phải trở về từ ngày hôm kia, nhưng do bão cản trở con đường trở về nên họ bị trì hoãn – báo cáo hôm qua cho biết họ vẫn đang ở khách sạn ở Trấn Mại. Bây giờ, khi mưa đã tạnh bớt, Lưu Tiêng nghĩ rằng họ có lẽ đã trên đường trở về rồi.

Chương trình này do huyện Qiong Sơn chủ trì, với sự hỗ trợ của Tổng cục An ninh Chính trị và Bộ Văn Tuyên; hệ thống thông tin của Tổng cục An ninh Chính trị cũng nhanh chóng hơn nên ông mới gọi Lục Thanh để hỏi thăm tình hình.

“Báo cáo với lãnh đạo! Tin mới nhất là họ đã vào đất huyện Qiong Sơn vào sáng nay, vừa qua Bạch Liên Phố,” Lục Thanh nói, ánh mắt lấp lánh vì hào hứng khi được triệu tập riêng lần nữa.

“Ngay lập tức gửi điện báo thông báo cho các trạm dịch vụ, họ sẽ đi từ từ,” Lưu Tiêng chỉ đạo.

“Rõ rồi, tôi sẽ đi thông báo ngay bây giờ.”

Lưu Tiêng cho rằng vào thời điểm quan trọng này, tốt nhất là giữ nhóm khách tham quan lại “giữa chừng”, điều này sẽ tạo ra áp lực tâm lý đối với những hộ gia đình lớn có thể phản đối, giảm bớt sự tích cực của họ trong việc cản trở công tác tuyển mộ này. Dù sao thì nhiệm vụ từ cấp trên vẫn cần phải được thực hiện.

Để thành lập nhóm khách tham quan này, Lưu Tiêng đã phải tốn không ít công sức. Bước đầu tiên trong việc thuyết phục họ là bắt đầu với Hải Thụ Tổ. Mặc dù sau chiến thắng của Lâm Cao ở Trấn Mại và việc các quan chức Quảng Đông phải nhận thua, Hải Thụ Tổ đã thoát khỏi sự theo dõi của các hộ gia đình lớn xung quanh, và dưới danh nghĩa “có quan hệ cũ với người Úc, cùng nhau kinh doanh lớn”, ông ta đang tỏa sáng rực rỡ tại huyện Qiong Sơn. Nhưng thực lòng mà nói, Hải Thụ Tổ vẫn không thực sự chấp nhận sự cai trị của nhóm người “đã du hành thời gian”. Sau all, tổ tiên của ông ta là Hải Nguyên, một quan lại của Đại Minh, đã nhận được lương thưởng và ân huệ từ Đại Minh; trong khi đó, người Úc chỉ là “dân tộc còn sót lại của triều đại Song” hay “người dân sống ở nước ngoài”, không liên quan gì đến quan niệm “chính thống” trong suy nghĩ của ông ta. Do đó, đối với các công việc của huyện Qiong Sơn, Hải Thụ Tổ luôn giữ thái độ “không hợp tác chặt chẽ”. Thái độ này cũng ảnh hưởng đến các hộ gia đình lớn khác trong huyện, khiến cho chính quyền huyện Qiong Sơn luôn gặp phải nhiều trở ngại trong việc xử lý các công việc địa phương, đặc bi

1/1 0%