lore

Chương 1068: Thuyết phục

9,615 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lữ Dương nói: “Thực sự không còn lối thoát nào khác nữa… Ông chủ Lộ có một số tài sản ở tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang; chỉ cần gửi người đi thuê đất để canh tác thôi.”

Tôn Nguyên Hóa không mấy tin vào điều đó – ông là người Gia Định, còn Chiết Giang thì nằm ngay sát bên này. Mặc dù phía bắc Chiết Giang là vùng đất màu mỡ, nhưng đã lâu rồi các con đường và đồng ruộng đều bị hoang hóa, không còn chỗ nào để canh tác nữa; còn phía nam Chiết Giang thì toàn là núi non, dân cư đông đúc nhưng đất đai lại ít ỏi, người dân buộc phải rời bỏ quê hương để đi làm công hay buôn bán, thuê đất mới có thể sinh tồn được. Còn về Phúc Kiến, mặc dù ông chưa từng đến đó, nhưng ông biết đó là một tỉnh núi non liền miên, đất đai cực kỳ hiếm hoi, sản lượng lương thực không đủ cho người dân trong tỉnh tiêu thụ, hàng năm có rất nhiều người dân phải di cư ra ngoài.

Dĩ nhiên, những người di cư mà ông chủ Lộ tập hợp lại chắc chắn có mục đích riêng… Chỉ cần nhìn cái cầu cảng kéo dài xuống vịnh là có thể hiểu ngay. Nếu không có rất nhiều con tàu cập bến, thì việc xây dựng một cây cầu cảng dài như vậy làm gì? Rõ ràng là để vận chuyển người dân bằng đường thủy.

Nghĩ đến chuyện này, ánh mắt Tôn Nguyên Hóa dừng lại trên những con tàu đang đậu bên cạnh cầu cảng… Lông mi ông giật mình.

Nơi này cách bến cảng khá xa, nhưng hôm nay thời tiết quang đãng, dưới bầu trời xanh biếc, những con tàu đậu bên cạnh cầu cảng có thể được nhìn thấy rất rõ.

Bên cạnh cầu cảng, ngoài một số chiếc thuyền đánh cá nhỏ thông thường của địa phương, còn có hơn hai mươi con tàu lớn! Tôn Nguyên Hóa rất hiểu tầm quan trọng của hải quân trong việc hỗ trợ và di chuyển qua biển khi chiến đấu ở Liêu Đông; khi còn làm tổng đốc ở Đăng Lai, ông đã rất chú trọng đến việc phát triển hải quân. Để mở rộng quy mô đội tàu, ngoài việc tự chế tạo ra những con tàu mới, ông còn cử người đặc biệt sang Triều Tiên để mua những con tàu chiến lớn.

Không ngờ rằng ngay dưới mắt mình lại tập trung đến một đội tàu lớn như vậy! Ông kiềm chế cảm xúc ngạc nhiên và hứng thú, lau mắt và quan sát kỹ lưỡng những con tàu đó.

Mặc dù không thể nhìn thấy chi tiết rõ ràng, nhưng nhìn chung thì tình trạng của những con tàu này rất tốt; buồm dây gần như còn mới, phía sau tàu có lá cờ bay phấp phới – màu xanh trắng. Trên boong tàu cũng có những vật thể được phủ bằng vải dầu, nhìn hình dạng thì có vẻ như là những khẩu pháo lớn.

“Những con tàu này đ

Bởi vì hình dáng của chiến hạm 901 rất khác biệt so với các con tàu thông thường, khi chiếc Thương hào đỗ giữa hai hàng tàu đặc nhiệm, không chỉ các khẩu pháo trên boong mà ngay cả ống khói cũng được che giấu bằng vải dầu và lưới đánh cá.

Ngay lập tức, Tôn Nguyên Hóa lên một trong những chiếc tàu đặc nhiệm – đây là loại tàu có thiết kế đặc trưng của vùng này. Dọc theo bờ biển Giang Tô và Triệu Khánh cho đến Liêu Đông, do có nhiều vùng nước nông, nên loại tàu phổ biến nhất là tàu cát có đáy phẳng. Trong số các chiến hạm của Hải quân Đăng Lai, cũng có khá nhiều tàu loại này. Tuy nhiên, loại tàu này có độ sâu thấp và tốc độ chậm, vì vậy chúng mới có lợi thế khi đối đầu với Hậu Kim – một quốc gia gần như không có hải quân.

Ông quan sát với sự hứng thú những phần được cải tạo của tháp sau tàu, cột buồm và hệ thống buồm. Đặc biệt, ông ấn tượng sâu sắc với boong tàu được đánh bóng sáng loáng – điều này hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của ông.

Khi lên tháp sau tàu, Tôn Nguyên Hóa lại cảm thấy rất thích thú với bánh lái – vào thời điểm đó, dù ở Trung Quốc hay nước ngoài, mọi người đều sử dụng cần lái để điều khiển hướng đi của tàu buồm, nhưng thiết bị bánh lái linh hoạt và tiện lợi này đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của ông.

Ông thử xoay bánh lái và thấy nó khá nhẹ nhàng, không khỏi ngạc nhiên.

Sau đó, theo yêu cầu của ông, Lữ Dương cho người kéo bỏ lớp vải dầu che phủ các khẩu pháo, để lộ ra những khẩu pháo trường 24 pound và pháo Carronade 68 pound được lắp đặt trên các bệ pháo.

Là một “chuyên gia về pháo binh”, mặc dù kiến thức của ông chủ yếu đến từ những nhà truyền giáo phương Tây không mấy chuyên nghiệp, nhưng ông đã tiếp xúc với rất nhiều sách vở và vật thể liên quan đến vũ khí phương Tây, đồng thời cũng có thời gian dài hợp tác với các binh sĩ Bồ Đào Nha, vì vậy khả năng nhận biết các loại pháo của ông có thể nói là không ai sánh kịp.

Chỉ nhìn qua, ông đã nhận ra rằng những khẩu pháo này lớn hơn nhiều so với những khẩu pháo “vũ khí quan trọng” mà triều đình Trung Quốc mua từ Ma Cao. Chưa kể đến những khẩu pháo to và ngắn kia, ngay cả những khẩu pháo dài có kích thước nhỏ hơn cũng lớn hơn nhiều so với những khẩu pháo Red Yi mà Trung Quốc sử dụng.

“Những khẩu pháo này bắn đạn nặng bao nhiêu cân?” Tôn Nguyên Hóa hỏi. Lúc bấy giờ, các tác phẩm về kỹ thuật pháo binh phương Tây được dịch sang tiếng Trung chưa thực hiện việc chuyển đổi đơn vị đo lường, vì vậy “pound” được dịch thành “cân”, và đơn vị đ

“68 cân?!” Tôn Nguyên Hóa cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Theo ông, những khẩu pháo Hoa Diễn bắn đạn nặng 12 pound đã được coi là “pháo khổng lồ” rồi; còn những khẩu pháo trên con tàu này thì chỉ sử dụng đạn nặng 24 cân mà thôi, thậm chí còn có loại bắn đạn nặng tới 68 cân!

“Nếu bắn đạn nặng 24 cân, chắc hẳn phải sử dụng rất nhiều thuốc súng,” Tôn Nguyên Hóa đặt ra câu hỏi thứ hai, “Tôi thấy thân pháo này rất mỏng và không phải được đúc bằng đồng; không biết liệu nó có thể không phát nổ khi bắn hay không?”

Thời Minh đã du nhập các loại pháo Tây yên, nhưng việc đào tạo và sử dụng chúng theo quy trình chuẩn mực vẫn chưa được áp dụng triệt để. Vì vậy, việc kiểm soát lượng thuốc súng sử dụng, tần suất bắn, cũng như việc giữ cho thân pháo mát lại sau mỗi lần bắn đều gặp nhiều vấn đề. Thêm vào đó, do những sai sót trong quá trình chế tác vật liệu và công nghệ, các vụ nổ pháo xảy ra khá thường xuyên.

Để đảm bảo an toàn khi bắn, người ta buộc phải tăng độ dày của thân pháo khi đúc. Kết quả là những khẩu pháo được chế tạo ra đều rất nặng. Xu hướng này tiếp tục phát triển đến mức, vào thời kỳ Chiến tranh Nha phiện, đã xuất hiện những khẩu pháo nặng hàng nghìn cân, nhưng đạn bắn ra lại chỉ tương đương với đạn của các khẩu pháo 12 pound, 9 pound hoặc 6 pound ở Châu Âu.

So sánh với đó, những khẩu pháo trượt nòng ở Lâm Cao đều được chế tạo bằng phương pháp đúc liền khối, kết hợp xử lý nhiệt và rèn đập trước khi khoan lỗ. Các nguyên liệu và quy trình gia công được sử dụng đã tiên tiến hơn hàng trăm năm so với các phương pháp truyền thống; do đó, chất lượng của những khẩu pháo này cao hơn rất nhiều so với những khẩu pháo được đúc thông thường.

“Không sao đâu,” Lữ Dương mỉm cười nói, “Dù là đạn nặng 68 cân hay hàng trăm cân, những khẩu pháo này vẫn hoạt động bình thường.”

“Hàng trăm cân đạn!” Tôn Nguyên Hóa ngạc nhiên lặp lại – theo ông, đạn nặng 68 cân đã đủ đáng sợ rồi, huống chi là hàng trăm cân!

Ông không thể tin nổi và lại một lần nữa quan sát chiếc pháo trước mắt mình: miệng pháo trơn láng, thân pháo lấp lánh ánh sáng… Tất cả những điều đó tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về độ tinh xảo của nó.

Ánh mắt ông chuyển sang bộ phận đỡ pháo phía dưới; thay vì những chiếc xe kéo pháo bằng gỗ theo kiểu Tây yên mà chính ông đã giám sát sản xuất, thì đây lại là những bộ phận đỡ bằng thép được thiết kế rất tinh xảo, với nhiều thanh sắt, bánh xe và những bộ phận bằng đồng-sắt khác nhau; một số trong chúng có vẻ quen thuộc… giống như những hình

Tôn Nguyên Hóa từng ở lại Liêu Đông và đã trải qua nhiều trận chiến thực tế; vì vậy ông hoàn toàn hiểu rõ tầm quan trọng của việc điều chỉnh hướng bắn pháo một cách dễ dàng như vậy trong thực chiến. Và đây chính là vấn đề mà cả người Pháp lẫn các giáo sĩ đều không thể giải quyết được!

Tiếp theo, Lữ Dương nhanh chóng xoay bánh xe cơ khí, và thân pháo dần được nâng lên; Tôn Nguyên Hóa đã không thể tin vào mắt mình khi thấy rằng người Bồ Đào Nha điều chỉnh góc nghiêng của pháo bằng cách dùng búa đập vào những tấm gỗ hình chữ V – không chỉ quá trình điều chỉnh diễn ra chậm chạp, mà việc sử dụng lực không đều còn có thể khiến pháo bị nghiêng quá mức.

Mọi người đều nói rằng phương Tây có những công cụ kỳ diệu mà Trung Hoa không sở hữu. Tuy nhiên, những “công cụ kỳ diệu” trên con tàu này thực sự vượt xa những thứ mà phương Tây có.

Đến lúc này, những suy đoán mơ hồ của ông đã trở thành sự thật rõ ràng: Ông Lộ chính là kẻ đó!

Ngoài ông Lộ ra, ai trên đời này có thể chế tạo ra những thiết bị tinh xảo và kỳ lạ như vậy? Những gì đã xảy ra ở Quảng Đông ít nhiều cũng đã đến tai Tôn Nguyên Hóa – đặc biệt là vì ông thường xuyên liên lạc qua thư từ với Giáo hội Công giáo ở Ma Cao, và còn thuê người Bồ Đào Nha phục vụ trong quân đội, nên ông nắm được nhiều thông tin về Viện Nguyên lão hơn so với hầu hết các quan chức triều đình. Ông biết tất cả về những thứ mới lạ như “con tàu sắt lớn”, “thuyền nhanh sắt”, “pháo lớn” và “súng nhanh” của bọn “kẻ đó”.

Dù con tàu trước mắt là loại tàu Quảng Đông, nhưng những khẩu pháo này thực sự là sản phẩm của Úc! Cả ông Lộ lẫn chàng trai trước mắt này đều là người Úc; căn cứ trên đảo Thổ Mã cũng chính là “lôi đài của bọn kẻ đó”!

Họ dành rất nhiều công sức để xây dựng căn cứ này và che chở những người tị nạn đến đây; rõ ràng họ đang có kế hoạch chuyển họ sang Đảo Hải Nam. Đảo Hải Nam nằm ở miền nam, dân số ít ỏi. Người Bồ Đào Nha đã nói rằng bọn “kẻ đó” luôn cố gắng thu hút người di cư từ đại lục đến đây; chắc chắn bọn họ trên đảo Thổ Mã cũng có mục đích tương tự!

Nhìn chung, Tôn Nguyên Hóa coi bọn “kẻ đó” chỉ là những người kinh doanh muốn kiếm tiền; miễn là Đại Minh không cản trở họ làm ăn, họ cũng sẽ không gây hại gì cho Đại Minh. So với bọn Tát Man hung ác, thích cướp bóc và giết chóc, họ thực sự tốt hơn nhiều.

Thông thường, dù là người Bồ Đào Nha hay những người từ Quảng Đông đến đây,

1/1 0%