lore

Chương 712: Hổ Môn Tiền

9,829 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Hạm đội dưới sự hướng dẫn của tàu Hải Thiên nhanh chóng vượt qua bãi cát Phù Lan và tiếp tục hành trình. Đa số các thành viên lão thành trong đội hình đều lần đầu tiên được vào vùng cửa sông Châu Giang để điều khiển tàu thuyền trên những dòng nước này. Trần Hải Dương trước đây đã từng nhiều lần lái thuyền trên sông Châu Giang – khi ông phục vụ trong Hạm đội Nam Hải, ông đã nhiều lần chỉ huy các chiến hạm tiến vào cảng Hoàng Phúc. Nhưng sông Châu Giang trong thời gian này hoàn toàn khác so với quá khứ. Mặt sông rộng lớn hơn nhiều, nước và trời hòa quyện vào nhau, mênh mông như biển cả. Khắp nơi là các vịnh nhỏ, con lạch và những hòn đảo cát nhỏ; những đồng bằng nơi nhiều dòng sông hợp lưu khiến người ta có cảm giác như đây là một vùng biển nội địa được điểm xuyết bởi các hòn đảo. Những con sông nhỏ chia cắt đất liền khiến người ta khó có thể phân biệt chúng với mặt nước xung quanh các hòn đảo. Nơi đâu cũng có những khu đất canh tác nhỏ, lúa mì mùa thu đang nở rộ, hương thơm của hoa lúa lan tỏa khắp không khí; các làng mạc và thị trấn nằm rải rác dọc theo bờ sông, hầu như không có đường bộ nào cả, mọi người chỉ di chuyển bằng thuyền thôi. Các con sông lớn nhỏ tạo thành một mạng lưới phức tạp, kết nối các thị trấn và làng mạc với nhau. Thỉnh thoảng, người ta có thể thấy những cột buồm và ván buồm của vài con thuyền mờ ảo xuất hiện giữa những cánh đồng lúa.

Cảnh đẹp tuyệt vời của vùng nông thôn cận nhiệt đới này gần như đã biến mất ở vùng đồng bằng sông Châu Giang trong quá khứ. Các thành viên lão thành trong đội hình đều ngưỡng mộ trước cảnh tượng này. Đây chẳng phải chính là bức tranh “dòng sông mênh mông, gió thổi qua làm cho hoa lúa thơm ngát hai bên bờ” sao? Đất nước Trung Quốc từ xưa đến nay luôn đẹp đẽ và màu mỡ như vậy; cảnh đẹp này càng làm dấy lên trong họ mong muốn mãnh liệt – phải giành lấy nó cho bằng được!

Trên mặt sông, có một số con tàu vận tải nội địa đang di chuyển, cũng như những chiếc thuyền đánh cá. Khi thấy một hạm đội hùng mạnh và trang bị tốt như vậy đang di chuyển, các con tàu này đều nhanh chóng tránh xa và đi vào các vịnh nhỏ hai bên. Trần Hải Dương ra lệnh bắt giữ một vài con tàu để hỏi thăm tình hình trên sông.

Theo thông tin do những thủy thủ bị bắt cung cấp, trên mặt sông Châu Giang không có tàu chiến của quân đội tuần tra; nếu có những con tàu vũ trang của chính quyền, thì chỉ có vài chiếc thuyền nhỏ của cơ quan thuế ở Zini đang hoạt động trên sông mà thôi.

Hầu hết các tàu chiến của qu

Pháo đài Yaniangxie ở Hổ Môn cũng đã được bổ sung thêm các vị trí phòng thủ và tăng cường lực lượng quân sự.

Trần Hải Dương nắm rõ tình hình phòng thủ dọc sông, và nhận thấy rằng phía Quảng Châu không hề có những biện pháp phòng thủ quá phức tạp – dĩ nhiên, ngay cả những biện pháp phòng thủ phức tạp nhất thì theo tiêu chuẩn của thế kỷ 17 cũng chẳng mấy có giá trị. Hạm đội do ông chỉ huy ít nhất cũng đạt trình độ vào đầu thế kỷ 19. Nếu không phải vì kiểu dáng của các tàu điệp viên quá cũ kỹ và tải trọng quá nhỏ, ông thậm chí còn không thể sử dụng nhiều tàu như vậy để tiến vào sông Châu Giang.

Trần Hải Dương ra lệnh: “Hãy thả tất cả những người dân bị bắt, và cho mỗi người một món quà lưu niệm.”

Những người dân và thương nhân bị bắt ban đầu nghĩ rằng dù không bị bắt làm con tin, họ cũng sẽ mất cả tàu lẫn hàng hóa. Nhưng họ không ngờ rằng những kẻ bắt giữ họ lại rất lịch sự; sau khi hoàn tất việc thẩm vấn, họ được phép tiếp tục hành trình trên tàu, và mỗi người trên tàu đều được tặng một chiếc khăn rửa mặt sản xuất tại Linh Cao – một món quà rất phổ biến và được ưa chuộng.

Mọi người trên tàu ngơ ngác nhìn chiếc khăn rửa mặt trong tay mình – trên đó có những dòng chữ màu đỏ viết: “Kỷ niệm lần đầu tiên Hải quân Úc tiến vào sông Châu Giang” – rồi nhìn theo đoàn tàu đang rời đi, cảm thấy như mình vừa trải qua một giấc mơ kỳ lạ.

Đoàn tàu tiến thẳng về phía Hổ Môn. Trần Hải Dương quyết định sẽ giành chiến thắng ngay trong trận đầu tiên tại điểm then chốt này – cánh cửa ra vào của Quảng Châu. Trong suốt hai triều đại Minh Thanh và thời hiện đại, Hổ Môn thuộc về huyện Đông Quan; nó nằm giáp biển Lĩnh Đình ở phía ngoài và liền kết với vùng biển Sư Tử ở phía trong, trải dài khoảng 8 km dọc theo dòng sông Châu Giang và các vùng đất hai bên bờ. Nơi đây là điểm then chốt của sông Châu Giang và cánh cửa ra vào của Quảng Châu. Trong lịch sử, sự an toàn của Hổ Môn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh của Quảng Châu; nếu kẻ thù xâm lược chiếm giữ được Hổ Môn, cả thành phố Quảng Châu sẽ bị lung lay. Vì vậy, các biện pháp phòng thủ tại đây luôn được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Mặc dù Hổ Môn chưa bao giờ có thể chống đỡ được một cuộc tấn công trực diện từ kẻ thù, ngay cả những quân đội Anh và Nhật Bản với vũ khí hạng nặng và chiến thuật tinh vi cũng đã từng xâm phạm được điểm này; thậm chí cả những băng đảng cướp biển Trung Quốc thời đại Gia Khánh cũng từng dễ dàng vượt

Hổ Môn nằm trong huyện Đông Quán, vì vậy Fan Văn Tài không thể trốn tránh trách nhiệm này và đã quyết định dẫn người của mình đến thị trấn Thái Bình phía trước pháo đài Hổ Môn để làm việc. Hàng nghìn lao động dân sự đã được điều động đến Hổ Môn để xây dựng các công trình phòng thủ.

Hứa Đình Phát là một tướng lĩnh chuyên về phòng thủ biển, ông hiểu rõ rằng hệ thống phòng thủ tại Hổ Môn cực kỳ yếu kém. Trên đảo Yà Niang Xié, chỉ có một khẩu đài bằng đất đá được xây dựng từ thời Vạn Lịch, và nhiều phần của nó đã bị hỏng hóc. Các loại pháo được lắp đặt trên khẩu đài đều là những khẩu pháo cũ kỹ kiểu Pháp Lang Cơ và Phát Diễn Pháo; chúng không chỉ có sức mạnh yếu kém mà còn thường xuyên bị gỉ sét do được đặt ngoài trời. Ngoài khẩu đài Yà Niang Xié, chỉ còn có một khẩu đài khác trên đảo Thượng Hoành Đăng đối diện, nơi có 4 khẩu Pháp Lang Cơ được lắp đặt. Sức mạnh tấn công phối hợp giữa hai khẩu đài này rất yếu. Hai khẩu đài này chỉ có thể kiểm soát được con đường thủy phía đông của Hổ Môn; con đường thủy phía tây thì hoàn toàn không có bất kỳ biện pháp phòng thủ nào. Chỉ sau khi qua đảo Thượng Hoành Đăng, ở phía nam đảo Đại Hổ Sơn mới có một khẩu đài đơn giản có thể ngăn chặn các con tàu đi qua con đường thủy phía tây.

Tổng cộng, ba khẩu đài này chỉ có 36 khẩu pháo, tất cả đều là những khẩu Pháp Lang Cơ và Phát Diễn Pháo được đúc vào thời Vạn Lịch hoặc trước đó. Tổng số binh sĩ canh gác ba khẩu đài này chỉ khoảng 120 người, và họ chỉ có nhiệm vụ đơn giản là trông coi các khẩu pháo và khẩu đài mà thôi.

Ngoài ba khẩu đài này ra, lực lượng của Quân Minh có thể sử dụng để bảo vệ Hổ Môn chính là lực lượng canh gác pháo đài Hổ Môn do Trần Khiêm dẫn dắt. Bình thường, lực lượng canh gác pháo đài Hổ Môn gồm 640 người và 10 chiếc tàu chiến, cùng với 120 khẩu pháo.

Với lực lượng như vậy, họ có thể ngăn chặn một số thương nhân và làm cho người dân e ngại, nhưng nếu thực sự xảy ra chiến tranh, Quân Minh sẽ cần phải tiếp viện thêm. Khi đó, tổng số lực lượng sẽ tăng lên đến 2000 người. Hứa Đình Phát biết rằng bọn cướp biển này nổi tiếng với những con tàu mạnh mẽ và vũ khí hùng mạnh, không thể so sánh được với những băng cướp biển bình thường. Vì vậy, một mặt, ông cùng với Fan Văn Tài bắt đầu công việc rửa sạch các khẩu pháo cũ và sửa chữa các khẩu đài, mặt khác, họ cũng điều động các khẩu pháo mới được đúc từ Foshan và những nơi khác đến để tăng cường lực lượng phòng thủ.

Số lượng khẩu pháo trên khẩu đài Yà Niang Xié đã tăng thêm 60 khẩu, nâng tổng số lên thành 72 khẩu. Trên đảo Thượng Hoành Đăng, không

Việc xây dựng nhiều khẩu đài pháo như vậy đòi hỏi rất nhiều tiền bạc và nhân lực; không thể hoàn thành trong vòng một năm trở lên, trong khi sự xâm lược của bọn cướp có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Hứa Đình Phát cùng các đồng nghiệp đã thảo luận và quyết định sử dụng cách xây dựng các khẩu đài tạm thời bằng cách chất đầy cát, sau đó mới lắp đặt các khẩu pháo lên đó – ít nhất điều này cũng có thể mang lại tác động răn đe nhất định.

Dù là Hứa Đình Phát hay Trần Khiêm, ai cũng biết rằng những biện pháp phòng thủ này không thể ngăn chặn được những con tàu sắt lớn hoặc những chiếc thuyền giáp sắt của bọn cướp, nhưng dường như loại tàu này khá hiếm; họ chủ yếu sử dụng những con thuyền buồm. Về mặt chiến đấu với những con thuyền buồm này, Hải quân Đại Minh vẫn khá tự tin – qua nhiều năm giao tranh với các băng cướp biển, họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu.

Khi hạm đội đặc nhiệm của Trần Hải Dương đi qua Đại Giác, các khẩu đài pháo tại Đại Giác và Sa Giác lập tức phát hiện ra đội hình chỉnh chuẩn của họ. Thêm vào đó, những lá cờ đỏ trên cột buồm và những con thuyền lửa đang phun khói đen càng làm cho mục đích của họ trở nên rõ ràng hơn.

Vào lúc 11 giờ 23 phút ngày 20 tháng Chín, các khẩu pháo lớn của khẩu đài Đại Giác lần đầu tiên được bắn. Tiếp theo, các khẩu pháo khác tại Đại Giác và Sa Giác cũng lần lượt được kích hoạt.

Trần Hải Dương ra lệnh thu hẹp đội hình. Hạm đội “Hải Thiên” đã từng báo cáo trước đó rằng những khẩu pháo tốt nhất tại Đại Giác và Sa Giác chỉ là những khẩu pháo 12 pound được sao chép theo kiểu của Anh, tầm bắn tối đa chỉ khoảng 1000 mét, hoàn toàn không thể đánh trúng đội tàu của họ. Những việc này chỉ là để tạo ra áp lực về mặt hình thức mà thôi.

Ông hoàn toàn có thể bỏ qua những cuộc bắn pháo đó và tiếp tục hành trình của mình. Tuy nhiên, nhiệm vụ lần này của Trần Hải Dương chính là để cho các quan chức địa phương ở Quảng Đông thấy rõ sức mạnh của nhóm “Xuyên Thoát”, và những hành động khiêu khích như vậy chắc chắn sẽ phải bị trả đũa một cách nặng nề.

Ông nhìn qua kính viễn vọng và thấy rằng các khẩu đài tại Đại Giác và Sa Giác được xây dựng rất đơn sơ, bằng cách chất đầy cát, và số lượng khẩu pháo cũng không nhiều. Ông liền ra lệnh tiêu diệt các khẩu đài này.

“Đầu tiên, tấn công khẩu đài Đại Giác! Các đội pháo canon hãy bắn tự do theo thứ tự lẻ và chẵn! Các đội pháo carronade hãy tuân theo lệnh của tôi để tham gia chiến đấu!”

Lần này, trong đội đặc nhiệm có các đội được trang

1/1 0%