lore

Chương 2616: Chó nhảy gà bay

9,424 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Dì ơi, gần đây có chợ nào bán giấy tằm không ạ?”

“Có chứ, chợ lớn ở Chín Giang có bán đấy. Những cửa hàng bán giấy tằm thường thuê gian hàng ở chợ; cũng có những người trồng tằm mang theo sản phẩm đi bán khắp các chợ nhỏ trong vùng.”

“Ồ, vậy mua bao nhiêu giấy tằm là hợp lý ạ?”

“Điều đó phụ thuộc vào số lá tằm bạn có được từ vườn tằm nhà mình. Thông thường, người ta sẽ đặt hàng giấy tằm với số lượng lớn hơn. Ban đầu, việc nuôi tằm chỉ cần ít lá tằm thôi; nếu không có lợi nhuận, những con tằm dư thừa có thể bị bỏ đi. Còn nếu có nhiều người muốn mua tơ tằm, bạn có thể mua lá tằm ở chợ, không nhất thiết phải dựa vào lá tằm tự trồng của mình. Hơn nữa, nếu xảy ra lũ lụt hay dịch bệnh, việc đặt hàng giấy tằm với số lượng lớn sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất mùa hoàn toàn.”

Sau khi hỏi về việc trồng tằm, Zhao Hening đứng dậy và nói: “Dì ơi, cho con xem nhà dì nuôi tằm được không ạ?”

Hoàng thị cũng vội vàng đứng dậy và nói: “Không sao đâu, chỉ là nhà tôi rất đơn sơ, e là sẽ làm phiền cô bé đấy.”

“Dì đừng nói vậy, con cũng xuất thân từ gia đình nghèo khó mà.”

Khi kéo rèm cửa vào, Zhao Hening thấy cách bài trí phòng nuôi tằm ở đây khác biệt rất nhiều so với ở khu vực Giang Nam. Trên những bức tường đất có những ô cửa nhỏ và lỗ nhỏ ở góc tường, có vẻ như để thông gió, nhưng tất cả đều được che kín bằng giấy và vải mùa, có lẽ là để ngăn ruồi bọ. Phòng nuôi tằm rất kỵ nhiệt độ cao và độ ẩm quá mức; mái nhà lợp tranh giúp thông gió, tường đất ngăn chặn hơi ẩm, nhưng nền nhà lại tiếp xúc trực tiếp với đất ở vườn tằm, nên vào mùa mưa, hơi ẩm rất dễ xâm nhập vào bên trong.

“Dì ơi, tại sao không xây riêng một phòng nuôi tằm riêng biệt nhỉ?” Zhao Hening không nhịn được mà hỏi.

Hoàng thị có vẻ lúng túng và nói: “Cô bé nói đùa rồi… Nhà tôi quá nghèo khó, thật sự không đủ khả năng xây phòng nuôi tằm riêng.”

Zhao Hening lắc đầu và nói: “Người và tằm sống chung trong một căn phòng như vậy thì môi trường ồn ào, đông đúc và bẩn thỉu sẽ không tốt cho sự phát triển của tằm đâu. Dì đừng coi thường lời khuyên này nhé; con cũng đã thấy nhiều người nuôi tằm khác, và họ đều xây phòng nuôi tằm riêng biệt. Nếu dì dành thêm vài vụ nuôi tằm nữa để tích tiền, sau đó có thể thuê người xây một ngôi nhà lợp tranh riêng biệt cho tốt hơn.”

“C

Hoàng thị liền dẫn Triệu Dẫn Cung đến một căn phòng khác. Ở góc tường, có một đống các vật dụng làm từ tre hình chữ nhật – đó chính là những tấm lưới dùng để nuôi tằm. Những tấm lưới này dài khoảng ba thước hai tấc, cấu trúc bên trong được tạo thành từ những thanh tre xếp thành hình đường bơi của hồ bơi; trên khung đó, những thanh tre mỏng được uốn thành hình elip, dài khoảng một tấc và rộng nửa tấc, tạo thành những ô vuông nhỏ thuận tiện cho tằm để tiết tơ và kén. Điều này rõ ràng khác biệt so với loại “lưới cỏ” thường được sử dụng ở vùng Giang Nam.

Triệu Dẫn Cung hỏi: “Lưới nuôi tằm của các người khác biệt rất nhiều so với ở Giang Nam, phải chăng có điểm đặc biệt nào không?”

“Hóa ra cô là người Giang Nam, thì đáng lẽ ra…”, Hoàng thị nói, “Khí hậu ở Kinh Châu ẩm ướt và oi bức, vì vậy loại lưới này giúp thông gió và thoát ẩm tốt hơn. Trước khi sử dụng lưới, cần phải nung lưới bằng lửa để đốt cháy những sợi tơ còn sót lại sau quá trình thu hoạch kén trước đó. Sau khi lắp đặt lưới khoảng một hoặc hai ngày, cần tiến hành công đoạn “nướng kén”. Lưới được xếp thành hình chữ thập, khoảng hai mươi tấm được trải ra và được bao quanh kỹ lưỡng bằng chiếu cỏ hoặc giấy dày; ở góc trên được đục những lỗ nhỏ để hơi nước có thể thoát ra ngoài. Cứ mỗi tám tấm lưới, lại đặt một cái chậu lửa vào giữa, nướng trong khoảng một tiếng rưỡi; sau đó cần lật ngược các tấm lưới lên trên xuống dưới và tiếp tục nướng thêm một lần nữa. Chỉ khi những con tằm đã chết hoàn toàn do quá trình nướng, mới có thể yên tâm lấy những cái kén khô ra.”

Triệu Dẫn Cung nói: “Chắc hẳn là do khí hậu ẩm ướt ở đây, việc nướng kén mới giúp ngăn chặn hiện tượng kén bị mốc.” Tất nhiên, ngoài ra, việc nướng kén còn giúp tiêu diệt những con ruồi và ký sinh trùng khác bám trên tằm, đồng thời giúp giữ nguyên trạng thái của kén khi được đặt trên lưới, từ đó thuận tiện hơn cho quá trình kéo tơ.

“Cô thật thông minh, hiểu ngay vấn đề”, Hoàng thị khen ngợi, “Chỉ là việc nướng kén này tiêu tốn khá nhiều tiền bạc.”

“À, cần bao nhiêu tiền vậy?”

“Mỗi tấm lưới gồm sáu tấm, cần ba cân than, tổng cộng khoảng một phần hai lượng bạc.”

Với số tiền này, Triệu Dẫn Cung cảm thấy không quá đáng kể, nhưng đối với những gia đình nông dân nghèo khó, một ít tiền cũng rất quan trọng. Không quá bận tâm về vấn đề này, cô tiếp tục hỏi: “Sau khi thu hoạch được kén, các người tự mình kéo tơ sao?”

Lý do cô hỏi câu này là bởi vì năm xưa

Việc kiểm soát sản xuất kén tằm trực tiếp tại nguồn gốc sản xuất là điều cần thiết. Cụ thể hơn, đó là mô hình hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ, tương tự như hợp tác xã nông nghiệp ở Lê Châu.

“Quả thật là chúng ta tự quay tơ,” Hoàng thị hỏi với vẻ tò mò: “Ở miền Nam, có ai bán thẳng kén tằm không? Điều đó thật sự không hiệu quả chút nào; hơn nữa, ở đây cũng không có ai mua kén tằm.”

Chợ kén tằm là sản phẩm của ngành công nghiệp quay tơ máy móc. Nếu không có nhu cầu lớn từ các nhà máy quay tơ, thì chợ kén tằm sẽ không hình thành. Ý nghĩa cách mạng của chợ kén tằm nằm ở việc nó đã tách ngành công nghiệp quay tơ ra khỏi ngành trồng dâu tằm. Zhao Hé Ninh nghĩ rằng, có lẽ ngành trồng dâu tằm ở địa phương này không phát triển bằng miền Nam; việc kén tằm bị bán rời rạc mà không có người mua là biểu hiện của sự phân công lao động chưa chặt chẽ.

“Bán tơ sống thì sao?” Zhao Hé Ninh lại hỏi.

“Cũng được, tất cả đều được các cửa hàng và thương nhân địa phương mua đi.”

Zhao Hé Ninh cảm thấy khá ngạc nhiên: “Kể từ khi người Úc đến đây, số lượng thương nhân Pháp ngày càng tăng; hoạt động thương mại với nước ngoài ngày càng phát triển, vậy tại sao doanh số bán tơ lại không tăng lên?”

“Thực sự là không tăng, vẫn giống như mọi khi.”

Zhao Hé Ninh hỏi tiếp: “Không phải người ta nói rằng ‘vải sợi từ Quảng Đông, cùng với lụa Ngư Lang, lụa năm sợi, lụa tám sợi, lụa mây, lụa bóng đều rất được ưa chuộng ở các thành phố lớn trong nước và ở hai lục địa Đông Tây sao?’ Có người đã viết một bài thơ rằng: ‘Tàu buôn nước ngoài đổ xô đến, đó là các quan và thương nhân; cổng Thập Tự mở ra hướng về hai lục địa Đông Tây. Lụa năm sợi, lụa tám sợi, lụa Quảng Đông thật tuyệt vời, tiền bạc chất đầy bên bờ hà.’”

Hoàng thị, một phụ nữ nông dân quê mùa, chưa bao giờ đi xa hơn chợ lớn ở Cửu Giang, nên naturally không biết những thông tin đó.

Vì vậy, Zhao Hé Ninh đổi chủ đề và hỏi: “Tơ sống được giao dịch tại chợ tơ à?”

Hoàng thị trả lời: “Đương nhiên rồi.”

Sau đó, Hoàng thị cũng giải thích thêm về tình hình của chợ tơ. Hiện tại, ở Cửu Giang vẫn chưa hình thành chợ tơ chuyên nghiệp; giống như chợ dâu tằm, chợ tơ thường chỉ là những cửa hàng nhỏ, thường được tổ chức trong các chợ lớn hiện có. Chợ tơ thường chỉ cung cấp một nơi để người mua và người bán thương lượng về giá cả; cũng có sự kiểm tra trọng lượng công khai, và người ta thu một khoản phí commission nhất định từ cả hai bên.

Cả chợ dâu tằ

“Nếu không tiết kiệm, mẹ con tôi đã sớm trở thành nô lệ rồi.”

Bên cạnh, Lạc Tử Nhân quen thuộc với tình hình địa phương và giải thích cho Triệu Hòa Ninh nghe: “Ở Cửu Giang, việc nuôi cá, trồng dâu tơ là ngành kinh doanh chủ yếu; ngay cả các gia đình quý tộc cũng không bỏ qua việc này. Từ mùa xuân đến mùa đông, họ không lo thiếu việc làm. Nếu có vốn, việc kinh doanh cá và dâu tơ sẽ mang lại lợi nhuận lớn; những người không có vốn vẫn có thể cắt cỏ, hái lá dâu để sinh sống. Điều duy nhất cần lo lắng là sự phung phí. Ở những nơi khác, sau mùa thu đông, khi lúa gạo được tích trữ trong kho, mọi người đều có thể sống no ấm qua mùa đông. Nhưng ở Cửu Giang, nếu không tiết kiệm từng đồng xu vào mùa trồng dâu tơ, người ta sẽ không đủ khả năng đối mặt với mùa đông khắc nghiệt. Những người góa phụ tự lực cánh sinh thậm chí còn có dư dả, đó chính là nhờ vào việc họ sống tiết kiệm. Vì vậy, có câu tục ngữ: ‘Người góa phụ luôn có lúa gạo để bán.’”

Khác với những nông dân trồng lúa, những hộ gia đình làm ăn bằng mô hình trồng dâu tơ kết hợp nuôi cá không sản xuất ra lúa gạo mà là cá, tơ và lá dâu – những sản phẩm không thể tự cung tự cấp được. Họ cần phải trao đổi lấy lúa gạo trên thị trường mới có thể sinh tồn. Do đó, cuộc sống của họ phụ thuộc vào thu nhập; yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bao gồm việc này đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, và sản phẩm phải được đưa thẳng ra thị trường, nên cuộc sống của họ đầy rủi ro. Khi xảy ra lũ lụt, cá sẽ bỏ trốn, dâu sẽ bị hỏng, và nếu tằm không có lá dâu hoặc bị bệnh, họ cũng sẽ không thu được gì. Nếu một mùa trồng dâu tơ thất bại, thiệt hại có thể ảnh hưởng đến mùa sau. Sự biến động của thị trường cũng khiến cuộc sống của họ trở nên bất ổn. Sau khi bán sản phẩm, những hộ gia đình này sẽ nhận được tiền mặt, nhưng họ cũng phải đối mặt với những cám dỗ như cờ bạc, uống rượu… Việc lo lắng về “dâu tơ cứng đầu” chính là lo sợ rằng nếu không tiết kiệm đủ, họ sẽ không có đủ tiền để mua lúa gạo để đối phó với mùa đông.

Triệu Hòa Ninh có vẻ không hiểu và hỏi Quan Tông Bảo: “Người đàn ông trong cái bình thuốc mà anh nói đến là ai vậy? Là vợ anh hay con anh?”

Quan Tông Bảo trả lời: “Là cha tôi.”

“Tại sao không thấy ông ấy ở đây?”

Hoàng thị nói: “Tối qua ông ấy mới đến đây, gây rối lên một trận, đòi một lượng bạc và nói rằng sẽ đi Guangzhou để kinh doanh.”

Nghe xong, Triệu Hòa Ninh tỏ vẻ thông cảm và thở d

1/1 0%