lore

Chương 893: Độ khó của việc thuê ngoài

9,758 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Để người tị nạn có thể qua đông trên Đảo Jeju và để Phục Ba Quân hoạt động thuận lợi trên bán đảo Sơn Đông, Tổng hành dinh Hỗ trợ Chiến dịch chắc chắn phải giải quyết vấn đề về quần áo mùa đông.

Cách giải quyết rẻ tiền và thuận tiện nhất chính là may áo khoác bằng vải bông. Chi phí thấp và hiệu quả cách nhiệt tốt – trong điều kiện vật chất dồi dào, đây chính là giải pháp được ưu tiên hàng đầu.

Viện Hoạch Định có đủ vải bông, nhưng lại không có nhiều bông để lót áo. Nghề trồng bông ở Đảo Hải Nam chủ yếu do người dân địa phương thực hiện; diện tích trồng bông rộng lớn, nhưng sản lượng lại hạn chế, và họ cũng không có thói quen may áo khoác hay chăn bông. Vì vậy, tại địa phương không có bông sẵn dùng.

Nếu muốn may áo khoác bằng vải bông, thì chỉ có thể sử dụng bông gòn. Bông gòn không thích hợp cho việc dệt may, nhưng các sợi của nó rỗng và có khả năng nổi cao. Các bậc lão thành đã sử dụng nó để sản xuất áo phao, và nó cũng có thể được dùng làm vật liệu lót áo khoác – về mặt cách nhiệt, nó hoàn toàn đủ tốt. Lượng bông gòn dự trữ cũng khá đầy đủ, có thể dùng để may một số áo khoác.

Viện Hoạch Định cũng có dự trữ lông vũ gia cầm – những chiếc lông vũ được lấy từ những con vịt, ngan đã được giết mổ, sau khi được lọc sạch thì được dự trữ để sử dụng sau này cho việc may áo khoác lông vũ. Tuy nhiên, những nỗ lực của nhóm phụ nữ bậc lão thành như Trịnh Thượng Tiết và Ái Bối Bối trong việc may áo khoác lông vũ đã thất bại. Áo khoác lông vũ dù trông giống như áo khoác bông được lót bằng lông vũ, nhưng công nghệ sản xuất nó khá phức tạp, đặc biệt là về chất liệu vải – cần đảm bảo rằng lông vũ không bị rơi ra ngoài. Trong thời kỳ cũ, người ta sử dụng loại vải sợi hóa học đặc biệt để làm điều này; còn ở Linh Cao, dù sử dụng các loại vải tự nhiên như vải bông, vải lanh, vải gỗ, len hay thậm chí là vải chuối quý hiếm, vẫn không đáp ứng được yêu cầu. Trịnh Thượng Tiết, Ái Bối Bối và những người khác đã thử nghiệm tất cả các loại vật liệu có thể tìm thấy, thậm chí còn xem xét việc phủ một lớp giấy dầu bên trong, nhưng cuối cùng tất cả đều thất bại – việc tái tạo áo khoác lông vũ trong những năm gần đây là điều không thể thực hiện được.

Cuối cùng, còn lại là loại vải len. Trước đây, Viện Hoạch Định đã mua một số vải len này ở Ma Cao và cũng thu được một số lượng khác từ những chiến lợi phẩm thu được ở Cẩu Gia Trang. Sau khi ký kết thỏa thuận thương mại với Công ty Đông Ấn Hà Lan, người Hà Lan cũng đã vận chuyển thêm một số vải len đến Linh Cao. Tổng số v

Hồng Hoàng Nam đã tổ chức nhóm làm việc liên kết để soạn thảo một bản ghi nhớ gửi đến Viện Hoạch Định, yêu cầu họ cung cấp đủ vật liệu cần thiết để may trang phục mùa đông cho các lực lượng quân sự của Phục Ba Quân. Các bộ áo khoác và đồng phục mùa đông được làm từ len sẽ được dùng cho cả quân đội thuỷ và bộ của Phục Ba Quân; ít nhất 4500 bộ đồ mùa đông bằng len cần được chuẩn bị trước mùa đông năm 1631. Ngoài ra, còn cần phải chuẩn bị giày ống có khả năng giữ ấm – tốt nhất là cũng có tính chống thấm nước.

Để tiết kiệm chi phí và vật liệu, các bộ áo khoác len này sẽ được thiết kế theo kiểu áo khoác ngắn; đồng thời sẽ cung cấp thêm mũ len hoặc mũ bằng vải cotton, cùng với găng tay và tất giữ ấm. Theo tiêu chuẩn của thời đại này, đồ giữ ấm cho binh sĩ thường được làm từ lông cừu vì chúng nhẹ nhàng, giữ ấm và chống thấm nước. Tuy nhiên, tại Lâm Cao không có lông cừu, cũng không có len. Vì vậy, Hồng Hoàng Nam đã chọn giải pháp thay thế bằng cách sử dụng găng tay bằng vải cotton được sản xuất rộng rãi trong các xưởng ở đây. Đối với tất giữ ấm, cũng sẽ dùng vải cotton dày để may thành tất.

Việc cung cấp những trang bị này trên Đảo Jeju không gặp phải vấn đề gì, nhưng Hồng Hoàng Nam không biết rằng vào thời kỳ Băng hà nhỏ ở Sơn Đông, thời tiết sẽ lạnh đến mức nào. Những biện pháp giữ ấm này vẫn có thể đủ hiệu quả khi nhiệt độ trên 0 độ C, nhưng nếu nhiệt độ giảm xuống khoảng âm 5–6 độ C, chúng sẽ không còn đủ hiệu quả nữa.

Các bộ áo len dành cho người tị nạn sẽ được may với kích thước lớn hơn một chút – không chỉ để mặc mà còn có thể dùng làm chăn nữa. Chất liệu vải phải đủ bền; như vậy sau khi người tị nạn được đưa đến Đảo Jeju, những bộ áo này có thể được giặt giũ và tiếp tục sử dụng cho những nhóm người tiếp theo. Nhóm làm việc liên kết ước tính rằng cần phải chuẩn bị 10.000 bộ áo len trước cuối năm 1631. Vấn đề giày ống giữ ấm cho người tị nạn khá khó giải quyết, nên Hồng Hoàng Nam quyết định không quan tâm đến điều này nữa – dù sao thì những người nông dân nghèo khó vào mùa đông cũng thường không có giày để mang; miễn là họ có thể sống sót đến Đảo Jeju, thì cũng không đến nỗi bị đóng băng chết được.

Vì trang phục quá đơn sơ và số lượng chắc chắn sẽ không đủ, nên cả trên Đảo Jeju lẫn ở Sơn Đông đều cần phải có những công trình có khả năng che chắn gió mưa để bảo vệ họ khỏi cái lạnh và bão tố, đồng thời đảm bảo an toàn tối thiểu cho họ. Các khu do

Phía Sơn Đông cần thiết lập các trại tạm thời với quy mô từ 20.000 đến 30.000 người, trong khi phía Giang Tô và Chiết Giang cần xây dựng các trại tạm thời có sức chứa từ 10.000 đến 20.000 người. Theo khuyến nghị của Bộ Thương mại Thuộc địa, các khu vực Đảo Jeju và Kaohsiung cũng cần thiết lập thêm các trại kiểm dịch có khả năng chứa đến 50.000 người. Một số vật liệu xây dựng cho các trại này sẽ được thu thập tại chỗ, còn phần còn lại sẽ được vận chuyển từ Hồng Kông. Tổng cộng, khoảng 3.000 tấn vật liệu xây dựng và thiết bị cần được vận chuyển.

Ngoài ra, Bộ Y tế ước tính rằng hàng tháng, người tị nạn cần khoảng 10 tấn thuốc men và chất làm sạch nước. Đồng thời, một nhà máy sản xuất nước sạch với công suất xử lý 20.000 lít nước mỗi ngày sẽ được xây dựng tại Sơn Đông, và hai nhà máy khác với công suất tương tự sẽ được lắp đặt tại Kaohsiung và Đảo Jeju.

Để đáp ứng nhu cầu về thiết bị sử dụng năng lượng hơi nước và nhiên liệu dân dụng tại Đảo Jeju và Kaohsiung, mỗi nơi cần 1.000 tấn than đá mỗi tháng.

Tại cả hai địa điểm này, các trạm tiếp tế cho tàu thuyền sẽ được thiết lập, đồng thời các tàu thuyền cũng sẽ được sửa chữa cơ bản. Hiện tại, ngành công nghiệp đóng tàu vẫn chưa đủ khả năng để thiết lập nhiều trạm tiếp tế, cũng không có đủ lao động và máy móc lớn. Hồng Hoàng Nam dự định chỉ xây dựng một số cơ sở đơn giản tại địa phương – như bến đóng tàu bằng cát, hệ thống cáp và cần cẩu đơn giản – đồng thời dự trữ một số vật tư dùng cho tàu thuyền. Ngoài ra, ba chiếc tàu sửa chữa sẽ được cải tạo, và những người thợ chuyên nghiệp cùng thiết bị, dụng cụ sẽ được điều động luân phiên tại các cảng của Kaohsiung và Đảo Jeju để bảo trì và sửa chữa tàu thuyền.

Sau khi đọc xong bản dự thảo kế hoạch cung ứng vừa được soạn thảo, Hồng Hoàng Nam không khỏi ngạc nhiên. Quy mô của dự án này thực sự rất lớn; so với “Chiến dịch Khổng Lồ”, mặc dù loại hàng hóa vận chuyển có phần ít đi, nhưng về số lượng và quãng đường vận chuyển thì dự án này vượt xa “Chiến dịch Khổng Lồ”, và mức độ phức tạp trong việc tổ chức cũng không hề kém gì so với thời đại cũ.

“Chỉ có thể tiến hành từng bước một thôi,” Hồng Hoàng Nam nghĩ, “Trước hết, cần giải quyết được vấn đề ăn ở sinh hoạt thì coi như đã thành công một nửa rồi.”

Ánh bình minh buổi sáng chiếu rọi lên mặt đất cao lớn của Linh Gao.

Tiếng chuông du dương vang lên – tại Linh Gao, nơi mà mọi kim loại đều được dùng vào mục đ

Cánh cửa lớp học bằng gỗ mộc đơn sơ mở ra, và một chàng trai khoảng hai mươi tuổi, mặc bộ “đồ công chức” làm từ vải thô màu xanh lam, vội vàng bước vào. Anh ta mang đầy đủ những đặc điểm của một “otaku”: kính mắt, thân hình mập mạp, mái tóc rối bù… Có lẽ anh ta giống như Hirano Kentaro trong “Schoolgirl Apocalypse” hay Hashida Toshi trong “Steins;Gate”. Tuy nhiên, anh ấy thực sự là một trong số ít những giáo viên đáp ứng được yêu cầu của các bậc trưởng lão.

“Đứng dậy!”

Kể từ khi Trường Tiểu học Dân tộc Phương Địa Thảo được thành lập hơn hai năm trước, nghi thức trong lớp học đã trở nên quen thuộc theo thói quen. Người du hành thời gian tên Viên Tử Quang này đã quen với cuộc sống như vậy từ lâu. Khi những học sinh lớp hai của trường cúi chào anh ta với góc 60 độ, anh cũng đáp lại bằng cách cúi chào với góc 45 độ. Sau đó, anh quan sát khắp lớp học.

Lớp học có ba mươi người, yên tĩnh không một tiếng động – Trường Tiểu học Dân tộc Phương Địa Thảo áp dụng hệ thống học chung cho cả nam và nữ. Mặc dù ở thời đại cũ, việc phân loại học sinh theo giới tính thậm chí thành lập trường học riêng biệt cho nam và nữ đã dần trở thành xu hướng của giới tinh hoa và người giàu có. Nhưng ở thời đại này, việc phá bỏ rào cản xã hội giữa nam và nữ, thúc đẩy mối quan hệ hiện đại giữa hai giới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chương trình “thay đổi phong tục tập quán” của các bậc trưởng lão. Ngoại trừ một số lớp học chuyên ngành chỉ dành cho một giới tính, tất cả các lớp khác đều có sự phân bố đều đặn giữa nam và nữ.

Lớp học của Trường Tiểu học Dân tộc Phương Địa Thảo rất giống với những trường học nông thôn ở các khu vực kém phát triển mà Viên Tử Quang đã từng đến “trao đổi kinh nghiệm”. Những bức tường trắng được phủ vữa, những cửa sổ bằng gỗ, những bàn ghế học tập màu trắng không được sơn phết… Ngay cả tấm bảng gỗ đơn sơ dùng để treo báo cáo đen phía sau lớp học cũng trông rất giống nhau.

Anh chú ý đến thông báo mới nhất trên bảng đen: “Việc theo dõi tư tưởng và giáo dục lý thuyết cho học sinh là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các giáo viên.” Câu này được in trên tài liệu gần đây được gửi đến Ủy ban Giáo dục Nhân dân và Phương Địa Thảo, khiến cho các giáo viên chuyên nghiệp do Hồ Thanh Bạch dẫn đầu cảm thấy bối rối, bởi vì tài liệu đó liệt kê nhiều “nhiệm vụ hàng đầu”, khiến mọi người không thể đồng thuận được về việc điều gì mới thực sự là “nhiệm vụ hàng đầu”.

Trên bảng đen, theo tài liệu “Hướng dẫn Dư luận” mới nhất của bộ phận thông tin, Hồ Thanh Bạch đã chọn đề t

1/1 0%