lore

Chương 1018: Người dân của Hồng Kông

9,790 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Phúc Kiến, Phủ Quảng Châu

Quảng Châu là một phủ. Phủ Quảng Châu quản lý bảy huyện gồm Kim Giang, Nam An, Đồng An, Huệ An, An Hạ, Vĩnh Xuân và Đức Hóa; trụ sở của phủ được đặt tại huyện Kim Giang. Nam An – quê hương của Trịnh Trí Long, kẻ thù tiềm ẩn lớn nhất đối với Viện Nguyên lão và là người khiến họ cảm thấy bực bội – nằm ngay phía tây bắc của huyện Kim Giang.

Kể từ khi Trịnh Trí Long được triệu tập về phe chính quyền và trở thành tướng chỉ huy các lực lượng du kích, gia đình ông ta đã trở thành gia đình giàu có nhất tại địa phương của tỉnh Quảng Châu. Trịnh gia đã mua lại rất nhiều đất đai ở Nam An, trồng các loại cây trồng xuất khẩu, và không lâu sau đó, họ đã trở thành những chủ đất lớn, bên cạnh việc kinh doanh buôn bán hàng hải. Những người trong gia đình Trịnh ở Nam An cũng dần trở nên giàu có và xây dựng những dinh thự lộng lẫy.

Tuy nhiên, Trịnh Trí Long không hài lòng với vị trí địa lí của Nam An; với tư cách là một bá tước biển, ông ta coi trọng một cảng biển tốt hơn nhiều. Vì vậy, ông đã quyết định xây dựng một pháo đài tại thị trấn An Bình thuộc huyện Kim Giang, coi đó là căn cứ chính của mình.

Thị trấn An Bình thuộc phủ Quảng Châu; vị trí của nó không nằm tại vịnh Quảng Châu nơi sông Kim Giang đổ vào, mà nằm đối diện với vịnh Vây Đầu, nơi đảo Kim Môn hiện ra. Thời cổ đại, nơi này được gọi là “Vạn Hải”; vào thời đại nhà Tống, nó được đổi tên thành “An Hải”, và đến thời đại nhà Minh lại được đổi thành “An Bình”. Việc thêm chữ “Bình” vào tên gọi có lẽ là để ám chỉ việc nơi này thường xuyên bị cướp biển quấy rối.

Vào năm Gia Tĩnh thứ 37, nơi này đã bị quân xâm lược Nhật Bản tấn công và chịu thiệt hại nặng nề; từ đó, họ mới bắt đầu xây dựng tường thành. Hậu quả của cuộc tàn phá do quân xâm lược gây ra vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng cho đến tận ngày nay; người dân nơi đây vẫn cảm thấy sợ hãi mỗi khi nhắc đến chuyện đó.

Trước khi được triệu tập về phe chính quyền, Trịnh Trí Long liên tục tấn công cảng thương mại truyền thống của Phúc Kiến là cảng Nguyệt Cảng, phá hủy hoàn toàn hoạt động thương mại quốc tế của cảng này, từ đó thực hiện ý định chuyển các cảng thương mại sang nằm dưới sự kiểm soát của mình tại An Bình và Trung Tả Sở.

Việc chọn An Bình làm căn cứ của mình là một quyết định được suy nghĩ kỹ lưỡng. Thị trấn An Bình, cùng với đảo Hạ Môn (Trung Tả Sở) và các đảo Kim Môn lớn nhỏ nằm dưới sự kiểm soát của ông, tạo thành một hệ thống kiểm soát chặt chẽ đối với vịnh Vây Đầu. Nếu kẻ thù muố

Cấu trúc chính của ngôi nhà này là kiểu nhà năm gian ba cửa với mười ba khung cửa sổ, có ba cánh cửa thông ra hai hành lang và năm sân trong. Hai bên là các gian phụ, lầu đài, và các pavilion được xếp đối xứng nhau, tạo thành hàng rào bảo vệ. Ở phía đông có “Đôn Nhân Các”, ở phía tây có “Thái Vận Lâu”; phòng tiền cửa được gọi là “ Thiên Chủ Đường”, phòng giữa là “Hiếu Tư Đường”, với quy mô hùng vĩ và trang nghiêm. Phía sau ngôi nhà lớn có khu vườn “Chí Viễn Viên”, được bao quanh bởi tường, với các đồi núi nhỏ, pavilion, nhà nghỉ, ao hồ, cây cầu nhỏ, con đường quanh co, cùng nhiều loại cây cỏ đẹp lạ.

Vào thời điểm này, ngôi biệt thự xa hoa này vẫn đang trong quá trình xây dựng gấp rút; Trịnh Trí Long cùng gia đình ông tạm thời đang ở một ngôi nhà nhỏ hơn ở thị trấn An Bình.

Lúc này, Trịnh Trí Long đang ở trong phòng ký tên riêng của mình. Mặc dù Viện Nguyên lão vẫn luôn nhớ đến ông, nhưng ít ai để ý rằng Trịnh Trí Long còn khá trẻ: ông sinh năm 1604, vào năm 1631 thì mới chỉ 28 tuổi. Sau khi Yên Tư Kỳ qua đời, ông đã tiếp quản đội quân cũ của Yên, lúc đó ông mới chỉ 21 tuổi. Nếu đặt vào bối cảnh thời đại cũ, ông chắc chắn sẽ được coi là một “tiểu tuổi tài năng” hay một trong “mười người trẻ xuất sắc”.

Năm 1631, Trịnh Trí Long đã loại bỏ hầu hết các đối thủ trên biển của mình, bao gồm cả Lý Kuí Kỳ – người từng suýt nữa đẩy ông vào tình thế bế tắc – và đã kiểm soát hoàn toàn việc buôn bán với Nhật Bản, buộc những người chủ cũ của mình, những người Hà Lan làm nghề vận chuyển hàng hóa trên biển, phải tuân theo các điều khoản do ông đặt ra. Lúc này, ông sở hữu một hạm đội lớn, áp đảo hoàn toàn việc buôn bán với Nhật Bản và Đài Loan; những từ ngữ như “kiếm tiền như nước chảy”, “giàu có có thể sánh ngang với một quốc gia” đều không hề phóng đại khi nói về ông. Thực sự, ông là một “chàng trai giàu có và đẹp trai” của triều đại Minh.

Trong tay ông đang cầm một bức thư. Bức thư này được mang về từ một con tàu thương mại của gia đình Trịnh trở về từ Đài Loan vài ngày trước. Người viết thư là đại diện của Trịnh Trí Long tại Đài Loan: Quách Hoài Nhất.

Quách Hoài Nhất là người đứng đầu nhóm người Hoa di cư đến Đài Nam. Nhìn bề ngoài, ông chỉ là trưởng làng của làng dân di cư Ô Chē Hành ở địa phương mà thôi. Thực tế, Quách Hoài Nhất từng là thuộc cấp của Trịnh Trí Long, và ông được để lại ở Đài Nam như một “quân cờ dự bị”.

Sự thăng tiến của Trịnh Trí Long và việc ông kế thừa di sản của Yên Tư Kỳ có mối liên hệ mật thiết

Việc thiết lập căn cứ trên các đảo ven biển Trung Quốc có rất nhiều địa điểm có thể chọn, nhưng ảnh hưởng của triều đại Minh vẫn còn đó, và sức mạnh quân sự của họ cũng chưa đến mức yếu đuối đến mức không thể chống đỡ được. Các đảo ven biển tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang là những nơi không thể xem xét đến – Sương Duyệt chính là bài học đáng giáo từ trước đó. Ngay cả đối với Penghu, người Hà Lan đã nhiều lần xây dựng pháo đài nhưng đều bị Quân Minh đánh đuổi, vì vậy họ chỉ có thể chọn những hòn đảo hoang vu ở nước ngoài – “vùng đất ngoài vòng kiểm soát” Đài Loan đã như vậy mà xuất hiện trong tầm mắt của họ.

Năm 1624, Yên Tư Kỳ dẫn theo binh sĩ và những người di cư đến Bắc Cảng, thiết lập doanh trại tại đây và thu hút người dân từ khu vực Trường Quan đến đây để khai phá và canh tác. Vào tháng Chín năm sau, Yên Tư Kỳ được cho là đã qua đời tại đây do bị cảm lạnh khi đi săn ở núi Chu Lỗ.

Cái chết đột ngột của Yên Tư Kỳ gây ra nhiều nghi vấn, nhưng dù sao đi nữa, Trịnh Trí Long mới chỉ 21 tuổi đã kế thừa vị trí lãnh đạo của Yên Tư Kỳ và nhận được phần lớn di sản của ông.

Sau khi kế thừa vị trí lãnh đạo, Trịnh Trí Long không quá tập trung vào việc mở rộng và canh tác tại Đài Loan. Người Hà Lan nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng tại Đài Loan, và người Tây Ban Nha cũng tham gia vào cuộc cạnh tranh này: vào năm 1626, người Tây Ban Nha đã xây dựng thành phố Thánh Salvador gần Keelung. Hai năm sau, họ lại xây dựng thành phố Thánh Domingo tại nơi hiện nay là Đàm Thuận. Lúc bấy giờ, Trịnh Trí Long đang liên tục giao tranh với các cường quốc hàng hải khác để tranh giành quyền thống trị trên biển, vì vậy ông không muốn dính líu vào những rắc rối này và từng quyết định từ bỏ các tiền đồn di cư tại Đài Loan để rút về Phúc Kiến. Tuy nhiên, sau đó ông lại thay đổi quyết định này và tiếp tục quản lý Đài Loan. Năm 1628, miền nam Phúc Kiến trải qua một nạn hạn hán nặng nề, khiến cho rất nhiều người dân đói khổ. Với sự hỗ trợ của Hùng Văn Tàn, Trịnh Trí Long đã thu hút hàng tens of thousands of people affected by the disaster from khu vực Trường Quan và Quan Nam, “trả cho mỗi người ba lượng bạc, và cho ba người một con bò”, sau đó vận chuyển họ bằng thuyền đến Bắc Cảng để khai phá và định cư. Điều này đã giúp mở rộng đáng kể số lượng và sức mạnh của người di cư Phúc Kiến tại Đài Loan.

Tuy nhiên, suốt quá trình đó, Trịnh Trí Long không hề điều động lực lượng vũ trang đến Đài Loan, cũng không tuyên bố rõ ràng quyền sở hữu đối với hòn đảo này. Ông chỉ hỗ trợ các lãnh đạo của người di cư Phúc

Người Hà Lan đã âm thầm liên kết với Lưu Hương, và ông ta từ lâu đã nắm rõ thông tin về sự hỗ trợ mà họ đang cung cấp. Nhưng bây giờ, ông vẫn chưa quyết tâm đối đầu trực tiếp với người Hà Lan.

Người Hà Lan luôn hai mặt, đối với Lưu Hương cũng chỉ có thái độ lưỡng lự, không bao giờ sẵn lòng hỗ trợ một cách nghiêm túc – mục tiêu duy nhất của họ là tìm cách duy trì sự cân bằng trên biển. Nếu ông ta đột ngột đổi thái độ, điều đó chỉ khiến người Hà Lan phải công khai đứng về phía đối lập với mình mà thôi.

Mặc dù Trịnh Trí Long không hề sợ hãi sức mạnh của người Hà Lan – vài năm trước, ông đã từng dạy dỗ họ rồi – nhưng xét cho cùng, ông cũng không phải là người thích chiến tranh; trước hết, ông là một thương nhân. Nếu người Hà Lan thực sự đứng về phía đối lập với ông và hỗ trợ Lưu Hương mạnh mẽ về mặt tàu thuyền và pháo binh, điều đó sẽ gây ra rất nhiều rắc rối cho ông.

Tuy nhiên, lá thư của Guo Huai Yi lại không đề cập đến người Hà Lan, mà là về người Úc.

Trong thư, ông ta viết rằng mình đã được biết từ miệng người Hà Lan và người bản địa địa phương rằng: vào đầu tháng Chín, đoàn tàu của người Úc đột nhiên đến cảng Đá Cẩu và lập tức đổ bộ tại đó. Họ vận chuyển một số lượng lớn người và vật tư lên bờ, và đã xây dựng các pháo đài và thành trì tại địa phương. Có vẻ như họ có ý định định cư và khai phát vùng đất này.

Trịnh Trí Long không hề xa lạ với người Úc hay những kẻ này. Vài năm trước, ông đã biết về hàng hóa và con người Úc – Lý Tư Y từng báo cáo về họ với ông và còn mang đến cho ông một số món hàng hiếm có từ Úc. Mặc dù nguồn gốc của những thứ đó khá bí ẩn, và chúng cũng chứa đựng nhiều thứ kỳ lạ – như con tàu sắt khổng lồ đó.

Nhưng trái ngược với Viện Nguyên lão, người coi họ là mối đe dọa lớn, Trịnh Trí Long lại không quá quan tâm đến họ: người Úc đang đóng quân tại Linh Cao – vùng biển phía tây Quảng Đông không thuộc phạm vi ảnh hưởng của ông, và ông cũng không có ý định can thiệp vào đó. Những năm qua, ông đã bận rộn đối phó với các đối thủ cạnh tranh trên biển, vì vậy người Úc, sống ở một góc phía tây Quảng Đông, không hề đe dọa đến ông, thậm chí còn không phải là mối phiền toái đối với Chư Thái Lão.

Chỉ đến năm ngoái, khi người Úc đánh bại quân đội của toàn tỉnh Quảng Đông trong cuộc tấn công, sau đó tiến vào cửa sông Châu Giang và đánh bại quân chính quyền, uy hiếp đến tận thành phố Quảng Châu mới rút lui, lúc đó Trịnh Trí Long mới thực sự b

1/1 0%