lore

Chương 2611: Chợ cổ Cửu Giang

9,574 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nghĩ đến việc trước đây Quan Hữu Đức từng làm nghề “chế biến cá”, Trần Ngũ Nhân lại hỏi về chuyện cá non: “Anh Quan ơi, tôi nghe nói cá non ở Khuất Giang đều được thu thập từ Tây Hải (sông Tây), tại sao không bán trực tiếp cho những người nuôi cá để họ thả vào ao nuôi? Tại sao phải qua tay người chế biến cá mới được?”

Quan Hữu Đức đáp: “Thật là một người suy nghĩ tỉ mỉ. Cá non mà ngư dân vớt lên không đồng nhất, có đủ các loại cá khác nhau; tuyệt đối không thể nuôi chung tùy tiện, nếu không thì trong cùng một ao sẽ không còn loài cá nào sót lại. Vai trò của người chế biến cá là phân loại và tách riêng các loại cá non đó, chỉ giữ lại bốn loại cá lớn gọi là ‘bốn loại cá quý’.”

Cách thức phân loại cá non này chính là bí mật của người chế biến cá, thường được truyền từ đời này sang đời khác mà không ai tiết lộ.

Là người dân địa phương, Trần Ngũ Nhân cũng hiểu rõ về bốn loại cá quý này. Trước thời Đường, các loại cá mà ngư dân nuôi chủ yếu là cá chép. Vì hoàng đế nhà Đường họ Lý, và tên “Lý” có âm thanh giống với “chép”; do đó, cá chép được coi là biểu tượng của hoàng gia, không được phép đánh bắt hay bán. Vì vậy, ngư dân buộc phải tìm kiếm các loại cá khác để nuôi. Cá chép thường được gọi là cá cỏ; cá trắm là cá trắm, còn được gọi là cá trắm trắng; cá măn là cá đầu to, còn được gọi là cá măn hoa. Khác với khu vực sông Dương Tử, người dân Khuất Giang không nuôi cá xanh, mà nuôi loại cá măn có tên gọi là “đất măn” hay “măn công”, đây là một loại cá đặc hữu của khu vực Nam Trung Quốc. Đến đầu thời Minh, việc nuôi bốn loại cá quý đã trở nên rất phổ biến.

“Nếu chúng ta nuôi cá, một mẫu ruộng khoảng một mu có thể nuôi được bao nhiêu con?” Trần Ngũ Nhân hỏi.

Zhong Jí đi cùng họ nghe thấy câu hỏi ngớ ngẩn này liền cười nói: “Mỗi mẫu ruộng một mu, có thể nuôi ba mươi con cá chép, một trăm hai mươi con cá trắm, năm mươi con cá măn, và hơn một nghìn con cá đất măn.”

“Tại sao số lượng cá đất măn lại chênh lệch nhiều như vậy?” Người đặt câu hỏi là Chá Hàn Bí, quản lý phát triển khu vực Quảng Châu của tổ chức Thiên Địa Hội. Tôi nhớ rằng ở Lâm Thấp, họ cũng nuôi cá theo cách này mà.

Mạc Ngư nói: “Anh bạn này thật là thiếu hiểu biết. Người ta thường nói rằng ‘cá măn có thể nuôi được’. Cá măn thích môi trường lạnh, khó có thể sống qua mùa đông; vào mùa thu và đông, chỉ có khoảng mười phần trăm cá măn sống sót. Những con sống sót sau mùa đông sẽ trở nên béo ngậy, và khi đã béo ngậy thì giá cả của chúng sẽ giảm xuống.”

“Ồ? Các loại cá nhỏ khác thì

Cá cỏ thuộc nhóm cá ăn thực vật, chủ yếu ăn cỏ, đồng thời cũng ăn một số loại ngũ cốc, bánh đậu, sâu bướm, giun đất… Chúng hoạt động ở tầng trên và giữa của nước để tìm kiếm thức ăn. Cá lăng là loài ăn tạp, đôi khi ăn các mảnh vụn thực vật thấp cấp và chất hữu cơ dưới đáy nước; chúng thường di chuyển ở tầng trên và giữa của nước.

Những mảnh thức ăn và phân của cá cỏ ở tầng trung bình trong nước là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời cho sinh vật phù du; sinh vật phù du này lại cung cấp thức ăn cho cá trắm, trong khi cá lăng ở tầng đáy có nhiệm vụ “dọn dẹp” những tàn dư thức ăn ở các tầng dưới và trung bình. Sự tồn tại của bảy loại cá này giúp cho các tàn dư thức ăn và sinh vật phù du được tích tụ một cách tự nhiên, từ đó đảm bảo chất lượng nước trong ao nuôi luôn trong sạch. Việc các loài cá cùng tầng này đuổi bắt thức ăn và khuấy động dòng nước còn giúp tăng lượng oxy hòa tan trong nước. Vì vậy, việc nuôi trồng kết hợp bảy loại cá này được coi là một bước tiến vượt bậc trong lịch sử công nghệ nông nghiệp, giúp tận dụng triệt để các nguồn tài nguyên nước.

Quan Hữu Đức hỏi Mạc Ngư: “Ông biết làm thế nào để vận chuyển cá non về Xiangshan không?”

Mạc Ngư đáp: “Ở Xiangshan, hầu như không có gia đình nào canh tác nông nghiệp; chợ cá rất đông. Ông nên thuê người để vận chuyển cá về. Nếu bán cho những nơi xa xôi, cá non sẽ nhỏ hơn; còn nếu bán cho những nơi gần đây, cá non sẽ lớn hơn. Người đi bộ có thể mang cá bằng hai giỏ, đưa giỏ lên xuống để tạo ra sóng nước, khiến cá cảm thấy như đang ở trong ao; sau đó họ có thể thả giỏ xuống sông để thay nước mới, giúp cá giữ được bản năng tự nhiên của mình. Còn nếu sử dụng thuyền chuyên chở cá, hai máy bơm nước sẽ hoạt động suốt ngày đêm để đưa nước mới vào thuyền và giữ lại nước cũ; tuy nhiên, cá non trong thuyền này có thể bị bệnh. Vì giao thông đường thủy từ bốn con sông đến Xiangshan rất thuận tiện, nên nếu ông là một hộ nhân gia nhỏ, việc vận chuyển bằng đường thủy sẽ là lựa chọn tốt nhất. Nếu ông muốn đặt hàng trước, tôi có thể tìm một chiếc thuyền chuyên chở cá để gửi đến quê hương của ông.”

“Ồ? Hiện nay giá cá non là bao nhiêu?”

“Thực ra, sự chênh lệch giá giữa cá non và cá trưởng thành không lớn lắm,” Mạc Ngư giơ bảy ngón tay trái lên và nói: “Mỗi trăm cân cá trắm hoặc cá lăng giá bảy lượng bạc; cá lăng giá bảy lượng bạc, còn cá lăng nhỏ chỉ giá một lượng bạc.”

Nhóm khảo sát thực sự muốn mua cá non; nghe vậy,

Quan Hữu Đức đã ở lại Lâm Thấp khá lâu và hình thành thói quen luôn hỏi rõ lý do khi cần biết điều gì đó. Khi Linh Thành Văn nói như vậy, tôi mới nhận ra rằng điều đó là đúng đắn. Trong thời cổ đại, bất kỳ nghệ thuật nào không yêu cầu kiến thức chuyên môn đặc biệt thường đều được truyền từ gia đình hoặc thầy trò; việc truyền nghệ thuật cho con gái cũng phổ biến hơn con trai, vì người ta sợ rằng con trai sau khi kết hôn sẽ mang nghệ thuật đó sang nhà chồng. Các học trò thì phải làm việc vất vả bên cạnh thầy trong nhiều năm để học hỏi nghệ thuật, và thầy thường giấu đi một số bí mật của mình; vì vậy mới có câu tục ngữ “dạy học trò quá nhiều có thể khiến thầy chết đói”.

Nhưng tại Lâm Thấp, ngoại trừ một số bí mật quan trọng, hầu hết các thành viên của Viện Nguyên lão đều sẵn lòng truyền đạt tất cả kiến thức của mình cho những người nhập cư, chỉ lo rằng họ sẽ học được những điều đó. Những người nhập cư không thích hỏi lý do thì lại được các thành viên Viện Nguyên lão coi như kho báu quý giá. So sánh với họ, Quan Hữu Đức thấy thật đáng tiếc – tại sao sự khác biệt lại nhỏ đến thế?

Sau khi lang thang ở chợ Cá Hoa một lúc lâu, mặt trời đã lên cao và nhiệt độ bắt đầu giảm xuống. Linh Thành Văn, người luôn yếu ớt, cảm thấy mình không còn sức nữa nên xin phép rời nhóm điều tra: “Thưa ông Mạc, sức khỏe của tôi không tốt lắm, đầu cũng đau nhức; tôi xin phép rời đi để tiếp tục công việc của mình, mong ông thông cảm.”

Chung Kỷ đã phục vụ tại Tứ Giang được hai năm và biết rằng lời nói của Linh Thành Văn chỉ là cái cớ để anh ấy ở lại. Trước khi rời đi, Chá Hàn Bí nói với Quan Hữu Đức: “Trưởng phòng Trần ơi, nếu bạn muốn biết phương pháp tách trứng cá thì cứ hỏi đi; trước đây chúng ta dùng phương pháp nuôi cấy thủ công, tức là trứng cá cùng loài sẽ được tách ra ngay sau khi được thu thập, và đó chính là bước quan trọng trong quá trình này. Nếu chúng tôi muốn giữ bí mật đó thì hãy để chúng tôi giữ đi; thậm chí có thể mang nó theo mình suốt cuộc đời.”

Quan Hữu Đức gật đầu: “Đúng vậy, vì các lãnh đạo đã yêu cầu các bạn phải tìm ra bí mật liên quan đến sản xuất cá Hoa ở Tứ Giang, nên tôi không thể phản đối điều đó. Có vẻ như việc này thực sự rất phức tạp.”

Nghe thấy đó là lệnh của lãnh đạo, Chá Hàn nói: “Về việc này, lần trước đã có người cố tình để nó rơi vào tay bạn; bạn nhất định phải giải thích rõ ràng cho tôi nghe, nếu không thì đừng hy vọng nó sẽ rời khỏi tay bạn.”

Quan Hữu Đức đáp: “Anh M

Đặt những con cá non trước giỏ tre, để chúng bơi khoảng một hoặc hai tiếng đồng hồ, sau đó dùng chiếc đĩa làm từ gỗ được sơn trắng để khuấy động nước mạnh mẽ. Dựa vào việc các loại cá có cùng tầng lớp trong nước hay không, ta sẽ vớt chúng lên từ dưới lên trên.”

Quan Hữu Đức nói: “Nguyên lý và thực hành thì cũng không khác biệt gì nhau. Đừng quên rằng ngoài bảy loại cá nhỏ kia, còn có nhiều loại cá khác lẫn lộn vào đó. Nhiều loại cá sống ở cùng một tầng nước, và những con cá non lại nhỏ như kim, việc phân biệt chúng thật sự rất khó.”

Trần Ngũ Nhân nói: “Cũng đúng thôi… Dù sao thì đây cũng là một kỹ thuật đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm. Theo thông tin mà chúng ta đã thu thập được, kỹ thuật nuôi cá nước ngọt ở Tứ Giang còn yếu hơn cả các bạn, mặc dù đó đã là mức thấp nhất của người bản địa rồi.”

Chung Kỳ hỏi với vẻ ngạc nhiên: “Lâm Tử, lời anh ấy nói có thật không? Mặc dù tôi đã theo Viện Nguyên lão từ lâu và biết rằng họ làm mọi việc đều tốt hơn người dân địa phương, nhưng tôi không ngờ rằng ngay cả việc nuôi cá, Viện Nguyên lão cũng không có ưu thế về kỹ thuật.”

Trần Ngũ Nhân trả lời: “Thật đấy! Chỉ cần xem tỷ lệ thả cá của bảy loại cá nhỏ kia là biết ngay. Ở Lâm Tử, mỗi mẫu ruộng chỉ thả tối đa một trăm con cá cỏ và bảy trăm con cá mè. Còn chúng ta chỉ thả tám mươi con cá cỏ, điều này chứng tỏ chúng ta có đủ nguyên liệu để nuôi cá; còn cá mè thì phải thả đến một nghìn con – điều này cho thấy chúng ta vẫn chưa tìm ra được kỹ thuật giúp cá mè qua đông. Nhưng vấn đề lớn nhất vẫn nằm ở tỷ lệ giữa ao nuôi và đất canh tác…”

Nghe Trần Ngũ Nhân đặt câu hỏi về tỷ lệ giữa ao nuôi và đất canh tác ở Tứ Giang, Chung Kỳ cảm thấy tò mò và hỏi: “Tỷ lệ giữa ao nuôi và đất canh tác chuẩn xác là bao nhiêu?”

Trần Ngũ Nhân trả lời: “Không có cái gọi là ‘chuẩn xác’ đâu… Chỉ có cái gọi là ‘phù hợp’ mà thôi.” Anh ta tiếp tục nói: “Ở Lâm Tử, tỷ lệ giữa ao nuôi và đất canh tác là ‘tám phần nước, bảy phần đất’, còn ở nơi khác thì ngược lại: ‘bảy phần nước, tám phần đất’. Điều này khiến năng suất sản xuất của ao nuôi không được phát huy tối đa. Hơn nữa, theo quan sát của bạn, diện tích mỗi ao nuôi ở đây thường từ bảy mẫu trở lên, trong khi ở Lâm Tử thì chỉ từ một đến mười mẫu. Đúng rồi, tỷ lệ ‘bảy phần nước, tám phần đất’ có lẽ phù hợp hơn với mô hình sản xuất của người dân địa phương. Vì

1/1 0%