lore

Chương 926: Gợi đẩy tình hình trở nên tồi tệ hơn

9,835 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sau hai ngày lênh đênh trên biển, con tàu “Hải Thiên” đã đến vùng biển gần đảo Nam Áo. Những cánh buồm màu trắng được căng ra hết cỡ, khiến con tàu trông giống như một chú hải âu, duyên dáng lướt qua mặt biển. Những con sóng bọt tung tóe…

Nơi đây gần đây luôn có thời tiết quang đãng, mặt biển trong xanh như pha lê. Vài đám mây trắng nhẹ nhàng trôi nổi trên bầu trời xa xôi. Mặt trời vào buổi chiều tháng Năm chiếu rực rỡ xuống mặt biển rộng lớn không gì che khuất. Trên mặt biển, những hòn đảo màu xanh hiện lên rõ ràng. Những con sóng xanh liên tục đập vào bãi biển trần trụi, tạo ra những âm thanh ầm ĩ đáng sợ.

Đây chính là đảo Nam Áo – nằm ở điểm giao trên biển của ba tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Đài Loan, cách thành phố Thâm Quyến 11,8 hải lý về phía đông, cách Cao Hùng 160 hải lý về phía đông nam, cách Hạ Môn 97 hải lý về phía bắc, và cách Hồng Kông 180 hải lý về phía tây nam. Vị trí địa lí của nó rất thuận lợi. Từ xưa đến nay, Nam Áo luôn là điểm dừng chân và trạm trung chuyển thiết yếu cho các hoạt động thương mại dọc theo bờ biển đông nam; từ thời Minh đã có danh xưng “thị trường hàng hải”. Nơi đây không chỉ từng là nơi các triều đình nhỏ của Nam Tống đặt chân đến, mà còn từng là nơi mà bọn cướp biển Nhật Bản gọi là “nơi cất giấu vàng”.

Con tàu “Hải Thiên” đến đây chắc chắn không phải để tìm kiếm kho báu vàng. Đây là một con tàu trinh sát, đo đạc thuộc hải quân, có nhiệm vụ thu thập thông tin về tình hình biển, địa hình bờ biển, đo độ sâu cảng… Trong các cuộc chiến tranh ở khoảng cách xa, nó cũng đóng vai trò như tàu dẫn đường.

Hải quân là một lĩnh vực tiêu tốn nhiều kinh phí; con tàu “Hải Thiên” chính là minh chứng sống động cho điều này. Trong trận chiến ở cửa sông Châu Giang năm ngoái, “Hải Thiên” vẫn chỉ là một con tàu loại 100 tấn. Bây giờ, con tàu “Hải Thiên” cũ đã được thay thế bằng con tàu “Hải Thiên” mới – chiếc tàu pháo hai cột “Trấn Hải” của hải quân trước đây. “Trấn Hải” là con tàu buồm hai cột kiểu châu Âu đầu tiên được chế tạo theo bản vẽ; nguyên mẫu của nó chính là con tàu nổi tiếng “Mỹ Châu”: trọng lượng 170 tấn, chiều dài 30 mét, chiều rộng 7 mét, độ sâu mớn nước 3 mét.

Con tàu này có khả năng vượt biển rất tốt, ngay cả khi gặp gió ngược cũng có thể di chuyển nhanh chóng. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi các thủy thủ phải có kỹ năng điều khiển tàu cao. Khi đi trong gió thuận mạnh, nó có thể đạt tốc đ

Ngoài việc vệ sinh và bảo trì thân tàu ra, con tàu còn được cải tạo bằng cách thay đổi hệ thống buồm cứng thành buồm mềm, phủ lớp đồng dưới đáy tàu, lắp đặt hệ thống động cơ hơi nước và thiết bị radio không dây.

Hải quân khá hài lòng với việc sử dụng con tàu Chấn Hải, nhưng cho rằng tàu này có tải trọng quá nhỏ và sức mạnh hỏa lực chưa đủ, vì vậy cuối cùng đã quyết định đổi tên con tàu Chấn Hải thành Hải Thiên, thay thế cho con tàu cũ loại Quảng Thuyền mang tên Hải Thiên để trở thành tàu thám hiểm và khảo sát mới.

Con tàu Hải Thiên mới được gỡ bỏ hầu hết các vũ khí trang bị trên tàu nhằm giảm trọng lượng. 6 khẩu pháo cỡ 2 pound và 2 khẩu pháo nòng xoắn cỡ 70mm đều bị tháo bỏ – những khẩu pháo nòng xoắn cỡ 70mm sản xuất vào giai đoạn đầu có một số hạn chế về hiệu suất và quy trình sản xuất, vì vậy chúng không được sản xuất hàng loạt mà chỉ được chế tạo thử nghiệm để lắp đặt trên các tàu chiến của hải quân; các tàu chiến hải quân vẫn chủ yếu sử dụng các loại pháo nòng trượt. Lâm Sâu Hà đã đệ trình báo cáo về việc nghiên cứu và chế tạo thế hệ mới các loại pháo để thay thế những khẩu pháo này, và những khẩu pháo có calibre đặc biệt này đã được đưa vào danh sách loại bỏ.

Sau khi gỡ bỏ tất cả các vũ khí, con tàu “Hải Thiên” mới được trang bị lại một khẩu pháo nòng trượt cỡ 48 pound và 4 khẩu súng “đánh máy” để tự vệ. Những vũ khí này đã đủ để đối phó với những cuộc tấn công của bọn cướp biển nhỏ lẻ.

Nhiệm vụ chính của con tàu Hải Thiên là “thám hiểm”, không cần phải tiến hành oanh kích bờ biển hay tham gia các trận chiến hải quân; tốc độ chính là vũ khí và “lá chắn” của con tàu này. Con tàu Hải Thiên không chỉ vượt trội hơn so với các tàu buồm truyền thống trong thời đại này khi sử dụng buồm, mà còn được trang bị động cơ hơi nước-khẩu phun xoáy; khi cần thiết, con tàu có thể tăng tốc độ cao nhất để thoát khỏi nguy hiểm.

Một ưu điểm nữa của loại tàu này là cần rất ít thủy thủ để vận hành; chỉ cần tối thiểu 9 người là có thể điều khiển con tàu. Với sự hỗ trợ từ động cơ hơi nước, số lượng thủy thủ cần thiết có thể được giảm xuống mức thấp, giúp tạo ra nhiều không gian hơn để bố trí các khoang sinh hoạt thoải mái hơn – nhằm đảm bảo rằng các nhân vật quan trọng thực hiện nhiệm vụ thám hiểm và hỗ trợ kỹ thuật có thể sống một cách thoải mái trên biển, các cơ sở vật chất sinh hoạt cũng được cải tạo để đảm bảo tối đa chất lượng cuộc sống của họ trên biển.

Để thuận tiện cho việc đổ bộ và khảo sát các vùng sông hồ nội địa, con tàu Hải Thiên còn được trang bị các giá đỡ

Lý Tử Bình sau ngày D đã tham gia vào lực lượng hải quân làm nghề đánh cá trong một thời gian, lái tàu đánh cá số 8154 đi tuần tra ngoài khơi cảng Bốc Phủ để bảo vệ Viện Nguyên lão. Sau khi Bộ Hải quân được thành lập, ông từ chối việc được bổ nhiệm vào các vị trí tại cơ quan hải quân, và tiếp tục giữ chức vụ chỉ huy tàu chiến, chăm chỉ luyện tập các kỹ năng điều khiển thuyền buồm và chiến thuật tác chiến trên biển. Khi máy hơi nước được phát minh ra, ông thường xuyên lui tới các xưởng sửa chữa máy móc này để nắm rõ đặc tính của chúng. “Nắm vững trang thiết bị mới, luyện tập kỹ thuật mới” – đó là câu khẩu hiệu của ông. Việc được bổ nhiệm làm chỉ huy tàu “Hải Thiên” lần này cũng là do ông tự nguyện; ông hy vọng thông qua chuyến đi này có thể thu thập thêm nhiều thông tin thực tế về các khu vực chiến trường trong tương lai – mặc dù ông biết rằng chức vụ này sẽ không kéo dài lâu; khi con tàu “Hải Thiên” được đưa vào hoạt động chính thức vào năm 1631, ông sẽ phải nhận trách nhiệm chỉ huy con tàu mới đó.

Dưới sự chỉ huy của mình, tàu “Hải Thiên” xuất phát từ Hồng Kông và di chuyển về phía bắc dọc theo bờ biển. Mục tiêu chính của chuyến đi này là khảo sát khu vực Pingtung và Kaohsiung ở Đài Loan, sau đó tiếp tục kiểm tra các vùng ven biển của Giang Tô, Chiết Giang và Sơn Đông để tìm kiếm những cảng biển hay hòn đảo có thể dùng làm nơi trú ẩn, tránh bão, đồng thời vẽ lại bản đồ bờ biển một cách chính xác. Mặc dù họ đã có sẵn những bản đồ biển chi tiết, nhưng bờ biển đã thay đổi rất nhiều so với trước đây, và sự phân bố của các rạn san hô, đá ngầm cũng khác biệt; vì vậy, việc điều chỉnh bản đồ trước khi khởi hành là điều cần thiết.

Một nhiệm vụ khác của tàu “Hải Thiên” là quan sát thực tế mức độ an toàn của việc vận hành tàu thuyền trên biển. Trước đó, các con tàu của công ty vận tải Đại Ba đã từng đi lại giữa Chiết Giang và Hồng Kông nhiều lần mà không gặp phải bất kỳ nguy hiểm nào – ngoại trừ một vài lần bị nhóm cướp biển nhỏ tấn công. Dường như kết luận của nhóm nghiên cứu lịch sử tại Thư viện Đại học là đúng: những ông chủ biển lớn này không có khả năng tổ chức một mạng lưới phong tỏa hàng hải chặt chẽ; mục tiêu của họ cũng không phải là điều đó. Dù là Lưu Hương hay Trịnh Trí Long, điều họ quan tâm chính là độc quyền trong lĩnh vực thương mại đối ngoại. Những kẻ thực sự thường xuyên tiến hành cướp bóc dọc theo bờ biển chủ yếu là những băng cướp biển nhỏ.

Lần này, tàu “Hải Thiên” đã công khai treo cờ Khởi Minh Tinh và cờ hải quân khi đi biển; mục đích của việc

Sau khi rút khỏi cửa sông Châu Giang, Lưu Hương không hề xuất hiện trở lại trong khu vực lân cận nữa. Tổng tham mưu và Cơ quan Tình báo Đối ngoại đã dựa trên các thông tin tình báo từ nhiều nguồn để phân tích trên bản đồ và xác định rằng: nếu Lưu Lão Hương đã rời khỏi khu vực cửa sông Châu Giang, những nơi có thể cô ấy đang ẩn náu, theo thứ tự từ tây sang đông, gồm: đầu tiên là Vịnh Đại Á, thứ hai là một trong hai bán đảo của cảng Sơn Hải, và cuối cùng là một trong ba vịnh thuộc huyện Đông Sơn. Trong số ba khu vực này, chỉ có đảo Nam Á thuộc khu vực thành phố Shantou và Sơn Hải mới là nơi lý tưởng nhất.

Trong thời điểm này, phần lớn khu vực thành phố Shantou và Sơn Hải vẫn còn là đầm lầy; người dân địa phương thuộc dân tộc Khách Gia đã dựng nên những chiến thuật đánh cá phức tạp, được gọi bằng tiếng Khách Gia là “Shan”, và từ đó hai tên gọi này được hình thành.

Nếu một nhóm cướp biển lớn, gồm hàng chục nghìn người, muốn tìm một nơi ẩn náu, thì đảo Nam Á chính là lựa chọn lý tưởng nhất: đảo có diện tích đủ lớn – khoảng 130 km² – và trên đảo có nguồn nước ngọt cũng như nhiên liệu dồi dào. Trong thời kỳ trước, đảo này có hơn 70.000 người sinh sống; chỉ cần có nguồn cung cấp lương thực ổn định, một nhóm người lớn sống trên đảo sẽ không gặp nhiều khó khăn. Đảo có cảng biển và vịnh, cách đất liền chỉ khoảng 12 hải lý, việc vận chuyển vật tư rất thuận tiện. Hơn nữa, khu vực đất liền xung quanh là những dãy núi rộng lớn, và khu vực Chaozhou thuộc vùng đất của người Khách Gia, nên thông tin ở đây khá kém thông suốt so với phần còn lại của tỉnh Quảng Đông. Theo phân tích của Thư viện Lớn, Lưu Lão Hương rất có thể xuất thân từ khu vực Chaozhou, thuộc dân tộc Khách Gia. Vậy thì việc đến đảo Nam Á chính là trở về “hang ổ” cũ của mình; không chỉ an toàn mà còn rất thuận tiện cho việc bổ sung nhân lực và vật tư.

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu lịch sử của Thư viện Lớn nhanh chóng loại bỏ khả năng này. Trong thời điểm này, đảo Nam Á là nơi đóng quân của Phó Tổng chỉ huy Quân giữ gìn tỉnh Quảng Đông, ông Chen Ting. Mặc dù các tướng lĩnh của Quân Minh và các thủ lĩnh cướp biển có mối liên hệ với nhau, nhưng họ cho rằng Chen Ting không thể công khai cho phép một nhóm cướp biển lớn sống dưới sự bảo vệ của mình. Điều này không chỉ trái với thông lệ trong giới quan lại mà còn đặt ông ta vào tình thế nguy hiểm lớn.

Các điệp viên được cơ quan Tình báo Đối ngoại cử đi cùng với các tàu tuần tra giả danh của hải quân đã tiến hành nhiều hoạt động điều tra dọc theo bờ bi

1/1 0%