lore

Chương 1133: Viện Vật Lý Thiên Văn Bạch Dã

9,776 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lý Tư Y trang điểm thành một cô gái người Miền Nam, khuôn mặt được tô đen sạm, đội chiếc mũ rộng sâu, sau đó cùng với vài người thuộc hạ của Guo Huai, giả danh là những thợ săn đến Đại Viên để bán da nai.

Thân phận của cô ấy là “con gái” của một trong những thợ săn này. Những người này đều là tay chân đắc lực của Guo Huai, thường xuyên đi lại giữa Đại Viên và Bần Cảng, dưới vỏ bọc buôn bán để theo dõi động thái của người Hà Lan.

Con đường từ Bần Cảng đến Đại Viên đã khá an toàn – ít nhất là vào ban ngày, những người di cư Hoa và nhân viên của Công ty Đông Ấn có thể đi thành nhóm mà không lo bị bộ tộc bản địa tấn công.

Hầu hết các cư dân bản địa trên đảo Đài Loan đều thuộc chủng tộc Mã Lai di cư từ Đông Nam Á; một số người chỉ đặt chân đến đây vào thời đại Đường và Tống. Nhiều người trong số những gọi là cư dân bản địa này đã mang theo tục lệ săn đầu người từ quê hương xa xôi của họ.

Việc săn đầu người không nhất thiết xuất phát từ lòng thù hận hay lợi ích – dĩ nhiên, nếu có cả hai yếu tố đó thì càng tốt; nhưng nhiều khi, việc săn đầu người chỉ đơn giản là một thú vui, một thứ để khoe khoang. Những cái đầu được phơi khô được dùng để chứng minh sự dũng cảm và sức mạnh của người sở hữu chúng.

Những thủy thủ gặp nạn, những người hái nước, hoặc những người di cư Miền Nam đến đảo đều trở thành mục tiêu của những cuộc săn đầu người ngay từ khi họ mới đặt chân đến đây. Bệnh sốt rét và những cuộc săn đầu người do các bộ tộc bản địa tiến hành đã khiến đảo Đài Loan trở thành nơi đáng sợ đối với người ngoài trong một thời gian dài.

Khi số lượng người di cư tăng lên, các lực lượng tự vệ được thành lập và người Hà Lan bắt đầu hoạt động kinh doanh trên đảo, các bộ tộc bản địa ở những nơi như Tân Cảng bắt đầu quy phục, và những vụ săn đầu người cũng giảm bớt đi nhiều. Tuy nhiên, việc đi một mình vẫn rất nguy hiểm. Dù hai bên đường từ Bần Cảng đến Đại Viên đã có nhiều ruộng đất canh tác được khai phá, nhưng vẫn còn nhiều khu vực hoang dã, ít người qua lại. Dù là người Hà Lan hay những người di cư, đều khó có thể đảm bảo an ninh cho khu vực này.

Ban đầu, phòng giao dịch của người Hà Lan được đặt trên đảo Bắc Tiêu, vừa có tác dụng phòng thủ vừa bảo vệ vùng biển nội địa của sông Đài Giang. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc giao dịch với người dân địa phương, họ cũng đã xây dựng thêm một số căn nhà bên cạnh kênh đào Lỗ Nhĩ Môn để làm trạm giao dịch. Họ mua bán da nai và đường, đồng thời bán các hàng tiêu dùng thông thường như sắt thép, muối…

Trạm giao dịch này cũng là một

Vào tháng Năm, ánh nắng mặt trời ở Đài Loan đã trở nên rất gắt bỏ; ngoại trừ những người bản địa vốn có thói quen đi chân trần, hầu hết người Hán đều đội những chiếc mũ tre phổ biến ở miền Nam tỉnh Phúc Kiến. Gần như không thể nhìn thấy khuôn mặt của họ được. Lý Tư Y biết rằng chỉ cần khuôn mặt mình không bị ai nhìn thấy thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra. Cô cẩn thận quan sát tình hình của các quan chức lớn dưới cái mái mũ tre đó.

Mặc dù ở nơi này rất khó để quan sát kỹ lưỡng tiến độ xây dựng của pháo đài Rijckzaal, nhưng ngay cả từ khoảng cách xa, cũng có thể thấy rằng công việc đã hoàn thành được hơn một nửa. Lý Tư Y ước tính rằng trong vòng không đầy nửa năm nữa, công trình sẽ được hoàn thành hoàn toàn.

Điều cho thấy người Hà Lan đang rất cảnh giác là những khẩu pháo được đặt trên đảo phía bắc. Rõ ràng, những bức tường bằng cây tre được dựng lên trên tường đồi cho thấy họ đã tăng cường cảnh giác một cách mới đây. Cô còn nhận thấy số lượng pháo trên đảo phía bắc cũng đã tăng lên, và số lượng lính canh tuần tra trên đảo cũng gia tăng.

Nhớ lại những gì Quách Hoài Nhất đã nói, rằng người Hà Lan gần đây đang tuyển mộ rất nhiều lao động viên để tham gia công việc xây dựng, rõ ràng họ đang vội vàng hoàn thành pháo đài Rijckzaal nhằm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc tấn công của người Úc.

Nơi đây cách làng của người Nhật rất gần, và Lý Tư Y nhanh chóng phát hiện ra rằng ở trước cửa hàng buôn bán có treo những thông báo bằng tiếng Nhật. Cô tìm cớ đi qua xem và thấy đó là lệnh tuyển mộ của người Hà Lan.

Người Hà Lan đang tuyển mộ người Nhật nhập ngũ – phát hiện mới này càng củng cố thêm suy đoán của cô. Cô rất hiểu rằng Công ty Đông Ấn của họ rất keo kiệt, và không bao giờ tuyển mộ binh sĩ một cách vô cớ.

Rõ ràng, Tổng chỉ huy Hans Putmans hoặc là rất lo ngại về người Úc, hoặc là có ý đồ xấu đối với họ.

Tuy nhiên, xét về tình hình hiện tại, so với người Úc thì người Hà Lan ở Đài Loan vẫn còn yếu hơn nhiều; Hans Putmans không thể nào điên rồ đến mức chủ động thực hiện những hành động thù địch với người Úc, và ông ấy cũng không có quyền đó.

Sau khi bán xong da nai, Lý Tư Y đến phố Đại Nguyên – bên ngoài trạm mua bán của người Hà Lan, do hoạt động thương mại, đã hình thành một chợ nhỏ. Lúc này chỉ có vài cửa hàng và vài quầy hàng nhỏ, chủ yếu phục vụ cho việc mua bán của người bản địa địa phương và những người Hán đến buôn bán. Trên đường phố, bên trong các cửa hàng, có rất nhiều người bản địa thuộc các bộ lạc Xiao Long, Ma Dou và Tân Cảng đi

Những người bản địa có trình độ văn minh thấp thường không cần quá nhiều đồ dùng sinh hoạt hàng ngày; việc buộc họ thường xuyên tiến hành giao dịch mới là điều quan trọng – chỉ cần tập trung vào những mặt hàng họ có thói quen phụ thuộc vào chúng. Một khi người bản địa nghiện rượu, họ sẽ trở thành những nạn nhân mà công ty có thể bóc lột. Từ Nam Mỹ đến eo biển Bering, Siberia, cảnh tượng này diễn ra ở khắp mọi nơi.

Lý Tư Y cũng đã từng tham gia loại kinh doanh này và hoàn toàn không coi đó là chuyện gì đặc biệt. Cô để những người của Guo Huai Y dẫn mình vào một quán rượu khá đàng hoàng. Nhìn vào những người ra vào cửa hàng, có thể thấy nơi này không phục vụ người bản địa; tất cả khách hàng đều là người Hoa, thỉnh thoảng cũng có người Nhật Bản, người da đen và người Đông Ấn.

Bên trong quán rượu, tiếng ồn ào vang dội; tất cả các cửa sổ đều được mở để thông gió. Khoảng 70–80% chỗ ngồi trong quán đã được chiếm dụng. Quán rượu luôn là nơi tụ tập nhiều tin tức, đặc biệt là những quán nhỏ như thế này. Nhìn vào những người ra vào, có thể thấy không chỉ có người Hoa đến đây để buôn bán mà còn có nhiều người thuộc các dân tộc khác đang phục vụ cho người Hà Lan. Chắc chắn họ sẽ mang lại cho Lý Tư Y rất nhiều thông tin quý báu.

Lý Tư Y thông thạo nhiều ngôn ngữ được sử dụng trên biển Đông Á – thậm chí cả một số ngôn ngữ địa phương. Theo chỉ dẫn của cô, nhóm người đã tìm một chiếc bàn gần nơi một số người Nhật Bản đang uống rượu, gọi đồ ăn và uống rượu một cách kín đáo.

Người Nhật Bản nói tiếng Nhật; có lẽ họ nghĩ rằng ở đây toàn là người Hoa nên không ngại nói ra những điều họ muốn nói. Vì vậy, Lý Tư Y nhanh chóng thu thập được rất nhiều thông tin quan trọng: bao gồm việc tăng cường cảnh giác gần đây; lệnh yêu cầu tăng lượng lương thực và đạn dược dự trữ trong thành phố và các pháo đài; và việc sẽ có thêm pháo và súng lửa được vận chuyển từ Bà Đà Diêu Việt đến.

Tiếp theo, Lý Tư Y nghe được một thông tin quan trọng: những con tàu buôn từ Bà Đà Diêu Việt sẽ đưa một nhân vật quan trọng đến thành phố Batavia.

Mặc dù người Nhật Bản có địa vị thấp và không biết chính xác người đó là ai, nhưng qua những cuộc trò chuyện của họ, có thể thấy những chuẩn bị được thực hiện để đón tiếp nhân vật này cho thấy ông ta ít nhất cũng là một quan chức cấp cao của Công ty Đông Ấn, tương đương với một thành viên của Hội đồng Bà Đà Diêu Việt, hoặc có thể là một nhân vật quan trọng đến từ Hà Lan.

Thông tin này ngay lập tức thu hút sự quan tâm lớn của Lý Tư Y. Sự xuất hiện đột ngột của nhân vật này chắc chắn có mục đích

“Gần phố Đại Nguyên có gái mại dâm hoạt động không?” Ngay sau khi đến nơi ở, cô liền hỏi người hầu của mình.

“Có chứ, trên phố có khá nhiều gái mại dâm. Có cả người Hoa lẫn người bản địa…”

“Họ phục vụ những ai vậy?”

“Tất cả mọi người đều được.”

“Có người phục vụ cho người da đen không?”

“Trên phố thì không. Nhưng ở khu vực bến tàu Bắc Tiêm Vĩ Đảo có một quán rượu, nơi đó toàn là gái mại dâm từ các vùng biển xa xôi; có cả người Hoa và người da đen… Thỉnh thoảng cũng có cả gái từ Đài Loan nữa. Chúng chỉ phục vụ cho các thủy thủ trên tàu; người da đen trong thành phố cũng thường xuyên đến đó.”

Lý Tư Y biết rằng người Hoa gọi người da đen là cả những nô lệ da đen từ châu Phi lẫn người bản địa từ Quần đảo Đông Ấn. Người da đen khá hiếm gặp ở Đông Á, và việc có phụ nữ da đen càng ít xảy ra hơn; có lẽ chính là những nô lệ phụ nữ bản địa từ Đông Á mà người Hà Lan mang về từ Bà Đà Diêu Việt.

“Khi trời tối hẳn, hãy tìm cách đưa tôi đến Bắc Tiêm Vĩ Đảo.”

“Tôi hiểu rồi!” Người hầu đã được chỉ thị, nên sẽ tuân theo mọi sắp xếp của cô.

“Khi tôi muốn trở lại, tôi sẽ đốt đèn ở bờ để báo hiệu; bạn hãy cử một chiếc thuyền đến đón tôi.”

“Điều đó rất dễ dàng,” người hầu nói, “Thuyền không cần phải quay trở lại đâu. Phía kia Lộc Nhĩ Môn có nhiều đá ngầm và nước cạn; người da đen chẳng bao giờ đi tuần tra qua đó đâu. Tôi sẽ giấu thuyền giữa đám đá ngầm. Khi bạn huýt sáo ở bờ, tôi sẽ ra đón ngay.”

Khi trời hoàn toàn tối đen, Lý Tư Y cùng hai người hầu lặng lẽ đến bờ biển; một chiếc thuyền nhỏ đã được chuẩn bị sẵn ở đó. Cô khoác một chiếc áo choàng len đen có mũ, nhẹ nhàng nhảy lên thuyền.

“Chúng ta đi thôi.”

Chiếc thuyền lặng lẽ trôi trên mặt nước – đây là con kênh Lộc Nhĩ Môn, những con tàu lớn không thể đi qua được, vì vậy nơi này khá vắng vẻ. Chiếc thuyền nhanh chóng vượt qua con kênh và dừng lại gần đám đá ngầm ở bờ.

“Hãy đợi tôi ở đây; nếu trước khi trời sáng tôi chưa trở lại, bạn hãy về ngay và báo cáo với ông Guo.” Lý Tư Y nhắc nhở người hầu sau khi quan sát xung quanh bờ biển.

“Tôi hiểu rồi.”

Lý Tư Y lặng lẽ bước lên bờ; nơi đây không xa bến tàu lắm. Trên bến tàu tối om, chỉ có vài ngọn đèn vẫn sáng. Cô đã hỏi rõ địa chỉ quán rượu, rồi tiến về phía đó.

Cô cẩn thận tránh qua các lính canh gần bến tàu, sau đó cởi bỏ chiếc áo choàng và mặc vào một chiế

1/1 0%