lore

Chương 1004: Những lo ngại và tham vọng của công ty

9,752 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Do nhu cầu về chất nổ ngày càng khẩn cấp ở mọi lĩnh vực, các nhà máy sản xuất chất nổ đã bắt đầu sản xuất thử dựa trên khẩu hiệu “vừa xây dựng vừa sản xuất”.

Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ công nghệ và năng lực sản xuất của ngành hóa chất, từ khi bắt đầu sản xuất loại thuốc súng đen đầu tiên vào năm 1629 cho đến đầu năm 1631, Viện Nguyên lão chỉ mới bổ sung thêm ba loại chất nổ mới: thuốc súng màu nâu, nitroglycerin và mercuric fulminate. Thuốc súng màu nâu là loại mới được đưa vào sản xuất gần đây, được sử dụng làm chất nổ cho các loại pháo lớn được quân đội và hải quân sử dụng ngày càng nhiều – thuốc súng màu nâu có tốc độ cháy chậm, nên việc sử dụng nó làm chất nổ cho pháo hạng nặng giúp tránh tình trạng nổ tung ống pháo.

Nói chung, sản phẩm chất nổ của Viện Nguyên lão khá đầy đủ: từ chất nổ dùng cho súng ống, chất kích nổ đến chất nổ mạnh đều có sẵn. Mặc dù trình độ công nghệ còn hạn chế, nhưng nhìn chung vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại.

Vấn đề lớn nhất là nhu cầu về chất nổ mạnh trong quân sự và dân dụng còn rất lớn, nhưng nguồn cung lại còn thiếu hụt nghiêm trọng. Hiện tại, loại chất nổ mạnh duy nhất có thể được sản xuất hàng loạt là loại nitroglycerin được làm mờ độc tính bằng cách hấp phụ bằng diatomite – đó là loại chất nổ Denamit.

Bởi vì để sản xuất nitroglycerin, cần có ngành công nghiệp sản xuất glycerin quy mô lớn, và ngành này lại cần được hỗ trợ bởi ngành công nghiệp sản xuất dầu mỡ. Hơn nữa, chất lượng glycerin cũng cần phải rất tinh khiết – phương pháp sản xuất glycerin thông thường bằng phản ứng sapon hóa của Ủy ban Công nghệ lại tạo ra nhiều tạp chất, điều này gây hạn chế đối với năng lực sản xuất. Vì vậy, cho đến nay, chất nổ Denamit chỉ được sử dụng ở quy mô nhỏ trong các công trình dân dụng; còn trong quân sự, thuốc súng đen vẫn là loại chất nổ được sử dụng rộng rãi để chứa trong đạn pháo và lựu đạn.

Mặc dù một số người cho rằng việc sử dụng chất nổ Denamit để chứa trong lựu đạn cũng không thành vấn đề – trong quá khứ, việc sử dụng loại chất nổ này để chứa trong mìn là rất phổ biến – nhưng vấn đề là chất nổ Denamit không thể được sử dụng để chứa trong đạn pháo. Khi đạn pháo được bắn, lực G tạo ra có thể lên đến hàng nghìn gia tốc, và chất nổ Denamit chắc chắn sẽ gây ra tình trạng nổ tung ống pháo.

Thuốc súng đen có tốc độ cháy thấp, lượng tàn dư sau khi nổ nhiều, và độ nhạy cao. Đối với Súng Trường Mini, việc sử dụng nó làm chất nổ còn tạm ổn, nhưng đối với mục đích quân sự thì thật sự là không thích hợ

Các hợp chất phenol có thể được sulfat hóa bằng axit sulfuric đặc hoặc natri sunfat, sau đó nitrat hóa bằng axit nitric đặc. Khó khăn lớn nhất nằm ở việc sản xuất ra phenol. Nếu không có ngành công nghiệp cốc hóa than, thì phải sử dụng quy trình phân hủy lipid hoặc tinh chế từ dầu mỏ than. Hiện nay, với ngành công nghiệp dầu mỏ than đã được thiết lập sẵn, việc cung cấp phenol một cách ổn định trở nên khá dễ dàng; do đó, việc sản xuất axit picric cũng trở nên tương đối thuận tiện.

Dự án sản xuất axit picric có mã số 0017 – bởi vì quy trình sản xuất do Từ Dương Kiệt đề xuất cho phép đạt hiệu suất cuối cùng là 17%.

Một dự án khác ngoài việc sản xuất axit picric là “Kế hoạch tăng cường sức mạnh của thuốc súng đen”, được đề xuất bởi Lâm Sâu Hà. Nói một cách đơn giản, đây là việc cải tiến các quy trình và phương pháp gia công để tăng đáng kể sức mạnh của thuốc súng đen, giúp nó có thể thay thế một phần thuốc nổ mạnh trong thời gian ngắn.

Hiện tại, Lâm Sâu Hà đang làm việc tại một khu vực được bao quanh bởi bức tường đất đá cao khoảng hơn một mét; trên tường được trồng hàng rào bằng liễu. Bảy hay tám tù nhân lao động đang tiếp tục lấp đầy đất bên trong khu vực này. Xung quanh khu vực này là những khu rừng trồng nhân tạo và rừng tự nhiên do Bộ Lâm nghiệp quản lý, vì vậy nơi này cực kỳ bí mật. Từ bên ngoài nhìn vào, chỉ thấy một khu rừng thông thường; một con đường đất nhỏ uốn lượn dẫn vào bên trong, bên cạnh đường có một con mương nước, và ở mỗi điểm gấp khúc đều có những đống đất được xây dựng để chặn lại các mảnh vỡ và sóng xung kích khi có người cần thoát hiểm. Con đường này chỉ dùng để đi bộ; việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện bằng những đoàn xe đường ray cầm tay hoặc xe kéo bằng trâu. Tên chính thức của khu vực này là “Trung tâm Nghiên cứu Thứ nhất của Tập đoàn Hóa chất Đặc biệt”; dự án do Lâm Sâu Hà phụ trách có mã số 2300.

Lúc này, ông đang mặc một bộ đồ làm việc bằng vải bông màu đen, và đang theo dõi những người công nhân đang tháo một chiếc máy móc không mấy nổi bật khỏi xe đường ray.

Chiếc máy móc không quá lớn, được bọc đơn giản bằng vải bạt chống thấm nước. Các công nhân mang nó vào phòng thí nghiệm. Giang Dã, người phụ trách việc lắp đặt và kiểm tra máy móc, nhảy xuống từ xe.

Hai người trò chuyện qua loa một chút rồi cùng nhau bước vào phòng thí nghiệm chuyên dụng của trung tâm nghiên cứu.

Xung quanh phòng thí nghiệm là những bức tường bê tông dày; bên trong và bên ngoài tường đều được chất đầy các túi cát. Trần nhà được làm bằng vật liệu gỗ nhẹ, có tác d

Trên tường và dưới sàn nhà được lắp đặt hàng loạt ống sưởi bằng đồng, nhưng không khí vẫn cực kỳ lạnh – chiếc nhiệt kế làm từ cồn cho thấy nhiệt độ trong phòng chỉ đạt 12°C. Thay vì hơi nước, những ống sưởi này chứa đầy nước được làm lạnh bằng hỗn hợp muối và băng. Vì việc sử dụng lửa hoặc khí gas để làm mát là điều cấm kỵ nghiêm ngặt, họ không thể dùng máy điều hòa gas – thiết bị làm mát hiệu quả nhất của mình – và hiệu quả làm mát của hệ thống điều hòa địa nhiệt có lẽ cũng không đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, họ mới phải sử dụng phương pháp làm mát này.

“Lạnh thật…” Giang Dã đổ mồ hôi đầy đầu; anh mặc chỉ áo sơ mi ngắn tay và vừa bước vào phòng đã run rẩy liền.

Lâm Sâu Hà đưa cho anh một chiếc áo khoác: “Mặc vào đi, ở đây phải duy trì nhiệt độ thấp mới có thể sản xuất an toàn được.”

Tấm vải che được mở ra, bên trong là một chiếc máy móc khá đơn giản. Nếu ai có chút hiểu biết về máy móc công nghiệp thì lập tức nhận ra đó là một chiếc máy ép áp suất loại xoắn ốc thủy lực.

“Đây là chiếc máy được chế tạo theo yêu cầu của bạn,” Giang Dã vừa chỉ đạo công nhân lắp đặt vừa giải thích, “Loại xoắn ốc thủy lực này có cấu trúc đơn giản và quá trình hoạt động ổn định; có thể vận hành bằng tay để tạo áp suất một cách chính xác. Hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật mà bạn đưa ra. Các bộ phận tiếp xúc nhau như khuôn mẫu, đầu ép và những bộ phận có thể gây ma sát đều được làm bằng đồng vàng để tránh tạo ra tia lửa.”

Lâm Sâu Hà đi quanh chiếc máy vài vòng: “Bạn phải đảm bảo rằng nó hoàn toàn tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật; nếu không, ngày mai khi bắt đầu sản xuất, chúng ta sẽ gặp rất nhiều rắc rối…”

Giang Dã biết rằng việc sản xuất chất nổ luôn đòi hỏi sự cẩn thận tuyệt đối, và anh không hề nói quá.

“Hãy yên tâm đi, mọi thứ đều được thực hiện đúng theo thông tin kỹ thuật mà bạn cung cấp. Từ việc chế tạo linh kiện cho đến việc lắp ráp, tất cả đều do những người có kinh nghiệm thực hiện; chúng tôi không dám để những người nhập cư làm việc này.”

Lâm Sâu Hà gật đầu, nhưng vẫn còn lo lắng. Quy trình sản xuất này không quá phức tạp, nhưng lại đòi hỏi môi trường xung quanh phải đạt độ ẩm từ 60% trở lên và nhiệt độ không quá 20 độ C; nếu không, sẽ xảy ra vụ nổ – dù sức mạnh của thuốc súng đen không lớn, nhưng trong một căn phòng như thế này, việc gây chết chóc hay thương tích cho nhiều người là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Về nhiệt đ

“Loại thuốc súng đen được trộn thêm nitroglycerin chỉ dùng để tự sát mà thôi,” Lâm Sâu Hà nói, “Tôi cần chính loại thuốc súng đen này; không thêm bất kỳ thành phần nào khác vào.”

“Vậy làm thế nào để đạt được điều đó?” Sự tò mò của Giang Dã ngày càng tăng lên.

“Chắc anh cũng biết rằng, khi mật độ của chất nổ trong không gian càng cao, sức công phá của nó càng lớn,” Lâm Sâu Hà giải thích, “Việc tăng gấp đôi sức mạnh của thuốc súng đen chính là dựa trên nguyên lý này – cố gắng nâng cao mật độ của thuốc súng đen.”

Tên gọi chính thức của Dự án 2300 là Công nghệ Chứa Thuốc Súng Đen Có Năng Lượng Cao. Trước đây, Lâm Sâu Hà luôn giữ bí mật về công nghệ này; bản thân ông cũng không hoàn toàn tin tưởng vào nó. Sau ngày D, khi trở thành người đứng đầu bộ phận quốc phòng, ông đã tiến hành vài cuộc thử nghiệm nhỏ bằng thiết bị và nguyên liệu có sẵn trong phòng thí nghiệm, đồng thời thực hiện các thử nghiệm thực tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ duy trì an ninh tại Đan Châu. Chỉ sau khi chắc chắn rằng không có vấn đề gì, ông mới chính thức đề xuất giải pháp này.

Nói một cách đơn giản, Công nghệ Chứa Thuốc Súng Đen Có Năng Lượng Cao là việc sử dụng phương pháp ép ẩm ở nhiệt độ thấp để chế tạo những cột thuốc súng đen có mật độ cao. Những cột thuốc súng đen này do có mật độ cực cao nên không thể được kích nổ bằng phương pháp truyền thống; chúng chỉ có thể được kích nổ bằng các thiết bị chuyên dụng, từ đó đảm bảo tính an toàn cao hơn nhiều.

Về mặt sức mạnh, việc sử dụng phương pháp ép ẩm ở nhiệt độ thấp để chế tạo cột thuốc súng đen có thể nâng mật độ chứa thuốc lên trên 2,3 gam trên centimet khối. Những cột thuốc súng đen này cần được kích nổ bằng thiết bị chuyên dụng, và tốc độ nổ của chúng có thể đạt trên 2600 mét trên giây. Trong khi đó, phương pháp chứa thuốc truyền thống chỉ cho phép mật độ chứa thuốc đạt tối đa 1,7 gam trên centimet khối, và tốc độ nổ không quá 800 mét trên giây; thực tế, thuốc súng đen hoạt động theo cơ chế cháy nổ chứ không phải nổ tung. Về mặt sức mạnh, hiệu quả của phương pháp này không chỉ tăng gấp đôi mà còn hơn nữa; việc sử dụng phương pháp này có thể làm tăng sức công phá của cùng một lượng thuốc súng đen lên hơn 60%. Nếu tính theo tốc độ nổ, hiệu quả này tương đương 39% so với TNT và 36% so với axit picric.

Lâm Sâu Hà rất rõ rằng điều này có ý nghĩa gì: đó là chúng ta không cần phải tiêu tốn nhiều nguồn lực để phát triển các công nghệ mới, mà chỉ cần

1/1 0%