lore

Chương 264: Đi vào núi Bảo

9,855 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhìn thấy Đinh Đinh bị đánh bại hoàn toàn, người đàn ông mập mạp đứng dậy và nói một cách thân thiện: “Đồng chí ơi, những nguyên tắc tốt đẹp chỉ có thể phát huy tác dụng trong môi trường thích hợp thôi. Đừng cứ áp dụng một cách máy móc nhé. Đây là lời khuyên hướng dẫn của bộ phận nội vụ đối với loại bài viết này; bạn hãy mang về xem xét và sửa đổi lại bài viết đi. Nếu không thể đăng trên tờ báo hàng ngày, thì vẫn có thể đăng trên tờ báo buổi tối mà. Nếu còn ý kiến gì, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết sau.”

Khi thấy Đinh Đinh cầm tài liệu đi rồi, người đàn ông mập mạp vẫn giữ vẻ mặt hiền từ và quay trở lại văn phòng của mình.

Tên chính thức của văn phòng anh ta là “Phòng Nghiên cứu Chính sách của Ủy ban Nội vụ”. Tên này không mang ý nghĩa cụ thể nào cả, mà chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của anh ta – không thực hiện công việc cụ thể nào, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu khoa học chính trị. Có thể coi anh ta như một cố vấn cho Ủy ban Nội vụ.

Văn phòng của anh ta rất sạch sẽ và gọn gàng. Một chiếc bàn làm việc bằng gỗ trắng được đặt đầy các giá tài liệu và giỏ tài liệu tự chế. Còn có một kệ sách lớn, chứa đầy sách vở. Những vật dụng hiện đại duy nhất trong văn phòng là một chiếc laptop và vài cái hộp đựng CD.

Phía sau bàn làm việc là một bức bình phong lộng lẫy nhưng không hòa hợp lắm với không gian xung quanh; phía sau đó là một chiếc giường gỗ trắng đơn giản, được treo màn chống muỗi, cùng với giá để quần áo và một cái tủ nhỏ. Đó là đúng kiểu trang bị thông thường của những người độc thân sống trong cơ quan.

Qua cách bài trí văn phòng, có thể thấy rằng vị này không có địa vị cao trong các bộ phận của Ủy ban Thực thi. Trên bàn làm việc của anh ta không hề có chiếc điện thoại có chuông bấm – thứ mà các trưởng bộ phận thường sử dụng.

Anh ta ngồi xuống chiếc ghế dây đã mòn rách, lấy ra một bức thư từ giỏ tài liệu có dấu “Đã đến”. Bức thư được gấp gọn lại và được đóng dấu “Bí mật” bằng con dấu màu đỏ. Khi mở ra, bên trong là bản dịch của một bức điện từ Quảng Châu.

Nội dung bức điện là thông tin về cuộc điều tra về lý lịch của Lý Hoa Mai tại Ma Cao. Anh ta đọc nó rất kỹ lưỡng.

**Báo cáo điều tra về lý lịch của Lý Hoa Mai**

**Mật**

**Trung tâm:**

Sau khi nhận được chỉ thị, tôi đã ngay lập tức bắt đầu điều tra về nguồn gốc và lý lịch của Lý Hoa Mai.

Tại Quảng Châu, gần như không thể tìm được bất kỳ thông tin nào liên quan đến cô ấy hay con tàu “Hàng Châu” của cô ấy; ngược lại, thông tin về Lý Tư Y lại nhiều hơn một chút. Tuy nhi

Trước khi chúng ta thiết lập được hệ thống tình báo riêng ở Ma Cao, tôi cho rằng việc sử dụng Hoàng Thuận Long làm kênh liên lạc là khả thi.

Trương Tín đã đến Ma Cao với danh nghĩa là người buôn bán rượu. Tôi đã phép anh ấy tiến hành các hoạt động sau: anh ấy đã tiết lộ với Hoàng Thuận Long rằng gần đây mình đã gặp phải những nữ hải tặc trên biển và mô tả chi tiết con tàu cũng như lá cờ của họ. Dựa vào phản ứng của Hoàng Thuận Long, Trương Tín suy đoán rằng người này có hiểu biết về chuyện này. Ban đầu, Hoàng Thuận Long không muốn nói nhiều về vấn đề này, nhưng sau khi Trương Tín tiếp tục thuyết phục, ông ta đã tiết lộ với chúng ta những thông tin sau:

Ông ta đã nhiều lần thấy con tàu giống như “Hangzhou” đậu ở cảng. Nhưng ông ta không biết con tàu đó thuộc về ai; điều duy nhất ông ta chắc chắn là thuyền trưởng là một người phụ nữ. Chúng tôi đã cho ông ta xem bức ảnh của Lý Hoa Mai được chỉnh sửa bằng máy tính để ông ta nhận diện, nhưng ông ta lại nói rằng mình không quan sát kỹ nên không thể nhận ra người thật. Tuy nhiên, Trương Tín tin rằng người mà ông ta nhìn thấy chính là Lý Hoa Mai.

Trương Tín nhận thấy rằng trong lời nói của mình, Hoàng Thuận Long rất ngại đề cập đến bất kỳ con tàu hay thuyền trưởng nào đang đậu ở địa phương này. Đối với những câu hỏi liên quan đến điều này, ông ta luôn trả lời rằng mình không biết gì cả. Chúng tôi suy đoán rằng điều này có liên quan trực tiếp đến công việc buôn bán của ông ta với các băng đảng hải tặc; ông ta sợ rằng mình sẽ vô tình tiết lộ bí mật của những người này trong lời nói. Tuy nhiên, việc ông ta không quen biết Lý Hoa Mai có vẻ là điều đáng tin cậy. Vì vậy, chúng tôi kết luận rằng Lý Hoa Mai không phải là hải tặc, ít nhất thì khu vực hoạt động của cô ấy không nằm gần bờ biển Trung Quốc. Từ đó, lời khai của Lý Hoa Mai rằng mình làm công việc buôn bán ở Goa có vẻ khá đáng tin cậy.

Ngày hôm sau, Trương Tín tiếp tục điều tra trực tiếp với các thủy thủ và nhân viên liên quan tại bến cảng. Từ những người này, anh ấy xác nhận được chu kỳ xuất hiện của con tàu “Hangzhou” ở Ma Cao: con tàu này đến Ma Cao vào tháng Sáu hàng năm, sau đó sẽ xuất phát và trở về một cách không đều đặn, điểm đến là các khu vực ở Đông Nam Á. Mỗi chuyến đi kéo dài khoảng một tháng, và con tàu “Hangzhou” sẽ rời Ma Cao hoàn toàn vào tháng Mười Hai. Chu kỳ này trùng khớp với chu kỳ buôn bán ở Goa tại Ma Cao. Đồng thời, qua việc nhận diện hình ảnh, họ một lần nữa xác nhận rằng Lý Hoa Mai chính là thuyền trưởng của con tàu “Hangzhou”. Nhân

Những tin đồn chủ yếu xoay quanh hành vi giết người và phóng hỏa của cô ấy. Dựa trên những thông tin thu thập được, chúng tôi suy đoán rằng ngoài việc cướp bóc trên biển, cô ấy còn tham gia vào nhiều cuộc tấn công vào Cảng Nguyệt.

Chúng tôi cho rằng không thể loại trừ khả năng hai người họ Lý có mối quen biết, hợp tác hoặc một mối liên hệ sâu sắc hơn nữa; dù sao thì cả hai đều có nguồn gốc từ người Bồ Đào Nha. Nếu Lý Tư Y có mối quan hệ huyết thống với họ Lý, thì việc Lý Hoa Mai – một người Hoa thuần chủng – lại mang trong mình nhiều đặc điểm của người Bồ Đào Nha thật là kỳ lạ. Cô ấy không thể tự nhiên có được tất cả những điều đó.

Về việc điều tra thông tin về Lý Hoa Mai, hiện tại chúng tôi chỉ thu thập được những dữ liệu này. Theo chỉ thị, chúng tôi đang tiếp tục thu thập thông tin về cô ấy; mỗi khi có tin mới, tôi sẽ ngay lập tức báo cáo chi tiết cho trụ sở chính.

Điểm kiểm soát Quảng Châu – Ziyàn

Người đàn ông mập đó đã đánh dấu “đã đọc” lên bức điện, sau đó lấy lên một bản thông điệp khác. Đây là bức điện từ tàu Hàng Châu, được đánh dấu là “bí mật nội bộ”. Bức điện chỉ có vài dòng ngắn gọn, nhưng thông tin bên trong lại rất quan trọng: Lý Hoa Mai đã lẻn vào khoang máy của tàu Trấn Hải vào ban đêm và ở lại đó ít nhất mười phút.

“Cô ấy thực sự là một người phụ nữ đầy sáng tạo,” người đàn ông mập thì thầm, suy nghĩ một lúc rồi lấy ra một tập hồ sơ và đặt cả hai bức điện vào đó. Anh ta viết tóm tắt nội dung và đánh số cho chúng, sau đó cho chúng vào giỏ hồ sơ “đã xử lý”.

Huyện Từ Văn, tỉnh Lệ Châu.

Hai người đàn ông đang khiêng kiệu trên con đường bụi bặm; xung quanh họ có hơn mười người hầu mặc áo xanh và năm sáu tay súng cưỡi ngựa đi theo. Mỗi người đều cầm ống sáo hoặc đeo dao bén, cảnh giác cao độ; những băng cướp nhỏ trên đường cũng phải lùi lại ba thước khi nhìn thấy họ.

Văn Đồng đang nhắm mắt nghỉ ngơi trong kiệu; anh đã quen với sự rung lắc của chiếc kiệu này rồi. Lần đầu tiên ngồi, anh suýt nữa thì ói ra ngoài. Trên truyền hình, người giàu có thường ngồi kiệu và coi đó là một thú vui; lúc đầu, anh cũng thấy nó khá thú vị, nhưng sau một thời gian dài, anh thực sự không chịu nổi nữa – bên trong kiệu không phải là ghế sofa mà là một chiếc ghế có lưng cứng, ngồi lâu quá sẽ khiến lưng đau nhức.

Từ cuối năm ngoái, khi việc thu hoạch mía bắt đầu, Văn Đồng đã được cử đến Lệ Châu với tư cách là đặc phái viên của công ty lương thực dầu mỏ Lâm Cao để giám sát quá trình sản xuất đường tại

Khi Bộ Nông nghiệp Trung Quốc thảo luận về việc có nên trồng mía ở Lâm Cao hay không, ông đã phản đối mạnh mẽ. Lý do là dù Lâm Cao có thể trồng mía, nhưng nơi đây không phải là vùng trồng lý tưởng nhất. Mía là loại cây trồng kinh tế tiêu tốn nhiều nước và phân bón; việc phổ biến trồng mía ở đây sẽ ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất lương thực địa phương. Phía bên kia eo biển, Từ Văn chính là vùng truyền thống sản xuất đường mía của Trung Quốc; nếu không tận dụng cơ hội này mà lại tiến hành xây dựng lại ở Lâm Cao thì quả là lãng phí nguồn lực.

Vì vậy, từ đầu mùa đông năm 1628, trạm làm việc ở Quảng Châu đã bắt đầu công tác mua lại các ruộng mía và nhà máy đường trên diện rộng lớn, đồng thời thiết lập các kênh giao thông và mạng lưới liên lạc trên đất liền tại Lệ Châu. Đến khi mùa ép đường bắt đầu, Tổng công ty Lương thực Dầu mỏ Lâm Cao đã kiểm soát được chín trang trại mía, 2600 mẫu ruộng mía và năm nhà máy đường ở hai huyện Hải Khang và Từ Văn.

Tham vọng của công ty Lương thực Dầu mỏ Lâm Cao không chỉ dừng lại ở 2600 mẫu ruộng mía này. Theo chỉ thị của Văn Đồng, miễn là có điều kiện, họ cần thu mua càng nhiều mía hoặc đường nguyên liệu địa phương càng tốt, và sử dụng công nghệ sản xuất đường tiên tiến mà những người du hành thời gian đã mang theo để sản xuất ra lượng đường trắng giá rẻ với số lượng lớn, nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

“Công nghệ sản xuất đường tiên tiến ư… Thật là viển vông,” Văn Đồng tự mình cười khổ khi nghe được chỉ thị này. Ông hoàn toàn không có thiết bị chuyên dụng cho nhà máy đường; làm sao có thể nói đến công nghệ tiên tiến được? Những gì những người du hành thời gian có được so với các nông dân trồng mía bình thường thì chỉ là khả năng chế tạo một số máy móc chuyên dụng, giúp tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sử dụng các sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất đường và giảm tổng chi phí mà thôi.

Bước đầu tiên sau khi Văn Đồng đặt chân đến đây là nhanh chóng thăm các vùng trồng mía chính ở hai huyện, quan sát tình hình trồng trọt, thu hoạch và chế biến mía. Ông biết rõ về những thiết bị và quy trình sản xuất đường cũ kỹ từ thời nhà Thanh, nhưng ông chưa từng thấy thiết bị thời nhà Minh trông như thế nào.

Để đảm bảo an toàn cho Văn Đồng, ủy ban điều hành đã cử Châu Sĩ Trái – người từng là cố vấn tại đồn cảnh sát – cùng một đệ tử đi theo để bảo vệ ông. Người này cũng xuất thân từ một hội dịch vụ bảo vệ, nên việc giao tiếp với ông cũng khá thuận lợi. Ngoài ra, còn có Thường Sư Đức – một thành viên khác

1/1 0%