lore

Chương 1647: Hội nghị mời gọi đầu tư

9,833 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Khi đang thưởng thức những chiếc bánh hạt dẻ ngon lành tại cửa hàng của Gia Đình Châu, Giám đốc Hồng đã gần như quên mất chuyện đó rồi – ông ấy luôn bận rộn với đủ thứ công việc. Những chiếc vali chứa tài liệu mật được người phụ trách liên lạc bí mật giao đến cho các thành viên của Viện Nguyên lão mỗi ngày; người khác gọi đó là “vali xách tay”, còn ông thì gọi nó là “gói hàng”.

Hiện nay, toàn bộ trụ sở chỉ huy hậu cần đang gặp rất nhiều áp lực công việc. Vào ban đêm, bàn làm việc của Hồng Hoàng Nam vẫn chất đầy các loại tài liệu và sách vở. Sau khi ký xong một loạt giấy tờ, ông buồn ngáy và yêu cầu binh sĩ phục vụ thắp sáng ngọn đèn bên dưới chiếc nồi “Gà Sáng Sớm” – bên trong đó chứa bữa ăn tối mà ông tự mình chuẩn bị cẩn thận. Việc ăn uống như vậy, ông không bao giờ để người khác giúp đỡ, huống chi là những cô hầu gái được đào tạo tại văn phòng.

“Quả nhiên, Quảng Châu xứng đáng là thủ phủ của tỉnh ‘Ăn Uống’ của chúng ta… Nguyên liệu ăn uống ở đây thật là phong phú.” Hồng Hoàng Nam nhìn ngọn lửa nhỏ le bên dưới chiếc nồi “Gà Sáng Sớm”, sau đó đứng dậy và duỗi lưng, hỏi: “Việc vẽ bản đồ tiến triển đến đâu rồi?”

“Thưa lãnh đạo, chúng tôi đã hoàn thành bản đồ Quảng Châu và hầu hết các huyện thuộc tỉnh Quảng Châu,” người thư ký đang làm việc bên cạnh ông báo cáo.

“Hãy đi xem thử,” Hồng Hoàng Nam nói. Ông rất quan tâm đến vấn đề này.

Ông cùng với vệ sĩ rời khỏi văn phòng, đi qua hành lang và vào một căn phòng lớn không có bất kỳ vách ngăn nào. Bên trong căn phòng, các kệ sách được xếp dọc theo tường, trên đó chất đầy những thùng da dài và những cuốn sổ tập dày cộm. Ở giữa là khoảng bảy hay tám chiếc bàn lớn. Trên các bàn đó, những tấm bản đồ được đặt lên trên những tấm kính; những bản đồ này bao gồm cả bản đồ toàn tỉnh Guangdong lẫn bản đồ từng huyện trong tỉnh – tất cả đều là bản đồ có tỷ lệ thu nhỏ cao. Nhiều người nhập tịch đang bận rộn làm việc quanh các bàn; hàng chục chiếc đèn dầu làm sáng rõ cả căn phòng.

Đây chính là nơi tiến hành công việc “sửa đổi” các bản đồ. Những người nhập tịch đang làm việc ở đây được coi là “lực lượng tinh nhuệ”; họ đều là những chuyên gia được đào tạo riêng biệt trong lĩnh vực lập bản đồ. Trong suốt hơn ba năm, họ vừa làm việc vừa học hỏi, chủ yếu tập trung vào kỹ năng lập bản đồ và vẽ đồ họa.

Vì những bản đồ có tỷ lệ thu nhỏ cao này liên quan đến thông tin mật, trước ngày D

Tất nhiên, bản đồ thế kỷ 20 vẫn có sự khác biệt so với điều kiện địa lý thực tế vào thế kỷ 17; trên Đảo Hải Nam, mức độ sai lệch này vẫn còn trong giới hạn chấp nhận được: chỉ là các khu dân cư và con đường không hoàn toàn trùng khớp với nhau mà thôi, còn về địa hình thì sai số không lớn lắm.

Nhưng khi áp dụng vào vùng Đồng bằng Sông Châu Giang, tình hình lại hoàn toàn khác. Vùng Đồng bằng Sông Châu Giang ban đầu là một vịnh nước nông gồm nhiều đảo, được hình thành do sự xói mòn và tích tụ của các dòng sông Tây Giang, Bắc Giang và Đông Giang từ các hướng khác nhau. Khi các hệ thống sông này đổ vào khu vực này, chúng phân nhánh và tạo ra một mạng lưới sông ngòi rất phức tạp; các vùng thấp trũng thì hình thành nên nhiều hồ ao. Trong diện tích chưa đầy 10.000 km², có tới 10.000 con sông nhỏ chằng chịt và giao nhau. Trong số những con sông này, có cả những con được hình thành tự nhiên và những con được con người đào móc. Việc trồng lúa và nuôi trồng thủy sản trên đồng bằng này khiến cho những con đường sông đã rối ren càng trở nên phức tạp hơn; đối với những người đi du lịch, các làng mạc ở đây giống như những hòn đảo hơn là những khu vực liền kết với nhau, và ở nhiều nơi, việc di chuyển bằng đường bộ là điều không thể thực hiện được.

Qua hàng trăm năm, do sự xói mòn của nước sông, sự mất mát và tích tụ đất đai, cùng với các hoạt động cải tạo đất đai… Những yếu tố tự nhiên và nhân tạo này cùng nhau góp phần làm cho sự chênh lệch giữa bản đồ và thực tế trở nên quá lớn.

Tình hình này thực sự đã được thể hiện rõ trong trận chiến tại cửa sông Châu Giang. Sau khi các đội quân được phân tán, họ bắt đầu nhận thấy rằng bản đồ không còn đáng tin cậy nữa; phương pháp chính lúc bấy giờ là sử dụng những người dân địa phương đã quay sang phe địch để làm hướng dẫn. Vì khu vực chiến đấu không lớn và mục tiêu chính của cuộc chiến là cướp bóc, việc sử dụng những người hướng dẫn này vẫn còn khá hợp lý. Nhưng đối với việc chinh phục toàn diện thì điều này hoàn toàn không đủ.

Sau khi trận chiến tại cửa sông Châu Giang kết thúc, Cơ quan Tình báo Ngoại giao, dưới sự chỉ huy của Lâm Bách Quang, đã chính thức tiếp quản công tác tình báo tại Ga Quảng Châu. Nhiệm vụ chính của họ là thu thập thông tin về địa lý, tài nguyên thiên nhiên, sản vật và tình hình dân cư của tỉnh Quảng Đông. Những thông tin này sau đó đã được sử dụng để chỉnh sửa bản đồ.

“Thưa lãnh đạo…” Một sĩ quan người dân địa phương mặc đồ thường của Bộ Tổng tham mưu nhìn thấy ông ta bước vào và chào cờ.

“Tiến độ công vi

“Đó đều là những bản đồ từ hàng trăm năm trước rồi, tất nhiên không thể sử dụng được,” Hồng Hoàng Nam nói dối mà vẫn bình tĩnh như không, “Các bản đồ khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang cần phải hoàn thành càng sớm càng tốt; đây là việc vô cùng quan trọng. Tuyệt đối không được chậm trễ!”

“Vâng, thưa lãnh đạo, chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức!” Vị sĩ quan vội vàng đứng thẳng người theo kiểu Đức và gật đầu liên tục.

“Chắc chắn phải hoàn thành công việc này với chất lượng cao,” Hồng Hoàng Nam lại nhắc nhở thêm, “Đặc biệt là thông tin về điều kiện thủy văn và khả năng giao thông của các tuyến sông trong khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang, phải được ghi chép rõ ràng. Nếu có điểm nào chưa rõ ràng, cần phải báo cáo ngay cho nhóm tình báo để họ xem xét.”

Lý do Hồng Hoàng Nam quan tâm đến công việc chỉnh sửa này chính là vì yêu cầu của công tác hậu cần. Kế hoạch hậu cần mà ông đề xuất chủ yếu dựa vào giao thông đường thủy.

Trong chiến dịch tại Quảng Đông, hậu cần phải được cung cấp cho những đơn vị đang ở xa trận địa, và các đơn vị này thường bị phân tán rải rác. Địa hình đầy sông ngòi và địa mạo phức tạp của khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang khiến cho phương thức tiến quân đồng thời xây dựng đường sá trước đây khó có thể phát huy hiệu quả trong thời gian ngắn. Ngoài những tuyến đường chính, hầu hết các thị trấn và làng mạc trong khu vực này đều không có đường bộ nối liền; người ta thường phải đi bộ qua những con đê ruộng và ao hồ. Việc vận chuyển binh sĩ và vật tư chủ yếu phụ thuộc vào đường thủy.

Nguyên nhân mà Trợ lý Hồng đã lặng lẽ từ bỏ kế hoạch triển khai các đại lý vận chuyển của mình tại Quảng Đông cũng chính là do những báo cáo về tình hình đường xá tồi tệ này.

Mặc dù việc cung cấp lương thực và củi có thể được thực hiện tại chỗ, nhưng lượng vật tư như đạn dược vẫn rất lớn. Đặc biệt là đối với Phục Ba Quân, họ còn phải mang theo các loại vũ khí hạng nặng như pháo và máy đánh máy, điều này càng làm tăng thêm độ khó trong quá trình di chuyển và cung cấp hậu cần. Thiếu đường xá tốt là một vấn đề thực sự nghiêm trọng.

Mặc dù Cơ quan Tình báo Ngoại giao ước tính rằng hầu hết các khu vực ở Quảng Đông đều có thể nhanh chóng được kiểm soát, nhưng Quân Minh vẫn còn sẵn sàng hàng nghìn binh sĩ để sử dụng: Phó tướng Nam Áo và Tham mưu phòng thủ Yao không tham gia vào trận chiến ở Tranh Mai, vì vậy lực lượng của họ vẫn còn nguyên vẹn. Nếu những người cầm quyền ở đó có thái độ kháng cự quyết liệt, họ còn có thể huy động các lực lượng dân

Chúng ta nhất định phải vận chuyển các nguồn cung tiếp tế từ các khu vực an ninh. Trong điều kiện địa lý xã hội của thời đại này, con đường thủy là phương tiện duy nhất có thể vận chuyển hàng hóa một cách nhanh chóng và với chi phí thấp.

Xét về điểm này, tỉnh Quảng Đông quả thật sở hữu những lợi thế đặc biệt. Thành phố trung tâm của tỉnh, Gia Nghĩa Phủ, nằm ngay tại điểm giao nhau của ba con sông chính trong tỉnh: Bắc Giang, Đông Giang và Tây Giang. Điều kiện vận tải thủy yếu tố rất thuận lợi. Phục Ba Quân có thể tận dụng khả năng vận chuyển của ba con sông này để dễ dàng đưa các nguồn cung tiếp tế đến những điểm then chốt: nếu đi theo Tây Giang thì có thể chặn đứng cuộc tiến quân của Quân Minh từ hướng Quảng Tây; nếu đi theo Bắc Giang thì có thể kiểm soát tuyến đường xuống phía nam qua Dãy núi Đại Dư Lĩnh; còn nếu đi theo Đông Giang thì có thể tiếp cận khu vực Chao Shan và kiểm soát tuyến đường Vượt Khe Lạc Quan dẫn ra Phúc Kiến.

Bằng cách vận chuyển quân đội và cán bộ qua đường thủy, chúng ta có thể mở rộng khu vực kiểm soát theo hình thức “dọc theo tuyến đường để lan rộng sang các khu vực lân cận”. Dù không thể kiểm soát toàn bộ tỉnh, nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể nhanh chóng kiểm soát các khu vực dọc theo ba con sông này. Nhờ vào các nhánh sông, các đội quân sử dụng những chiếc thuyền nhỏ có độ sâu nước thấp còn có thể tiếp cận những khu vực xa xôi hơn, từ đó kiểm soát được nhiều khu vực hơn nữa.

Trong khi tra cứu các tài liệu về điều kiện vận tải thủy nội địa của tỉnh Quảng Đông do Thư viện lớn biên soạn, Trợ lý Hồng Hoàng Nam đã rất vui mừng khi phát hiện ra rằng có rất nhiều tuyến đường trong hệ thống sông ngòi của ba con sông này có thể cho phép các phương tiện vận chuyển di chuyển. Nếu không quá quan tâm đến kích thước của con thuyền, thậm chí những chiếc thuyền nhỏ có trọng lượng khoảng mười mấy tấn cũng có thể di chuyển đến những nơi rất xa xôi trong tỉnh.

“Đây quả thực giống như một mạng lưới đường sắt sẵn có vậy,” Hồng Hoàng Nam thốt lên. “Không lạ gì Tổng tham mưu lại chọn Quảng Đông làm mục tiêu đầu tiên; có lẽ không chỉ vì đây là nơi gần Hải Nam nhất.”

Anh cúi người xuống, nghiên cứu kỹ lưỡng bản đồ toàn tỉnh Quảng Đông trên văn phòng, dùng bút chì màu vẽ các điểm đóng quân, tuyến đường tiếp tế và các thông tin liên quan khác lên tấm kính, suy nghĩ về cách triển khai hệ thống tiếp tế này.

“Báo cáo!” Kèm theo tiếng báo cáo, thư ký mang đến những tài liệu mới nhất được gửi đến. “Đây là các thiết kế của một số loại thuyền nội địa mới nhất do xưởng đóng

1/1 0%