lore

Chương 2417: Xưởng dệt tơ (II)

9,559 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Có gì đáng để phàn nàn chứ,” Shen Su cười nhẹ, “Trong lòng thì muốn, nhưng miệng lại cứ nói không được.”

Trần Lâm cảm thấy bối rối và đành nói: “Nếu vậy thì xin phiền rồi.”

“Đúng là vậy, tôi ghét nhất cái vẻ giả tạo của mọi người,” Lý Mò Nhi nói, “Ở đây chỉ là bữa ăn gia đình thông thường thôi, không có gì đặc biệt đâu. Sau khi ăn xong, tôi có việc muốn bàn bạc với bạn.”

Ngay lập tức, người phụ trách phòng trà trong nhà máy đã mang bữa trưa ra. Bữa ăn ở nhà máy rất đơn giản, chỉ là cơm và canh nấu chung trong nồi lớn, sử dụng nguyên liệu sản xuất địa phương. Dù gia đình Trần là nhà giàu, nhưng họ vẫn sống tiết kiệm, không quá cầu kỳ về ăn uống.

Mỗi người đều được phục vụ một phần ăn, không ít cũng không nhiều. Trong lúc ăn, Lý Mò Nhi hỏi thêm về phong tục tập quán và tình hình sản xuất địa phương. Trần Lâm không cần phải giấu giếm gì, liền trả lời tất cả. Điều mà Lý Mò Nhi quan tâm nhất là việc mở rộng diện tích trồng cây dâu.

“Bạn có biết về mô hình ao nuôi cá kết hợp với vườn dâu không?”

Trần Lâm tỏ vẻ ngạc nhiên. Hóa ra mô hình này, vốn nổi tiếng khắp thế giới ở vùng Đông Dương và được coi là một trong những nguồn gốc của nền kinh tế tuần hoàn, vẫn chưa xuất hiện ở đây.

Mô hình ao nuôi cá kết hợp với vườn dâu là việc trồng cây dâu trên bờ ao, dùng lá dâu để nuôi tằm, còn phân tằm và nhộng tằm được dùng làm thức ăn cho cá, còn bùn ao thì được dùng làm phân bón cho cây dâu. Như vậy, hai hệ thống này tương tác với nhau, giúp nhau phát triển, đạt được hiệu quả cao cả về mặt nuôi cá lẫn trồng dâu.

Mô hình này lần đầu tiên xuất hiện ở các vùng trồng dâu tằm ở Giang Tô và Chiết Giang. Hệ thống ao nuôi cá kết hợp với vườn dâu ở Hồ Châu bắt đầu hình thành từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc. Cuốn “Sách Nông nghiệp của Gia đình Shen” được viết vào cuối triều đại Thanh Thế Tông ghi chép: “Nuôi cá trong ao, phần đất màu mỡ có thể dùng để trồng tre, phần còn lại thì trồng dâu và nuôi cá; cuối năm có thể đổi lấy gạo, nuôi khoảng năm sáu con cừu, đây chính là nền tảng để phát triển nghề trồng dâu,” và có thể thu được lợi ích kinh tế “vừa có lợi cho cả hai mặt, lại mang lại lợi nhuận gấp mười lần so với trồng lúa”.

Ngoài việc dùng lá dâu để nuôi tằm, sau khi mùa nuôi tằm kết thúc, ở khu vực phía nam sông Dương Tử, người ta còn dùng lá dâu để nuôi cừu, thu nhập càng cao hơn nữa.

Tuy nhiên, ở Quảng Đông, mô hình này lại khá hiếm gặp. Những thông tin do các “

Tuy nhiên, nếu nhìn từ tổng thể khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang, ngành trồng tơ nuôi tằm vẫn chưa phát triển mạnh mẽ. Họ đã tìm hiểu thông tin từ thư viện lớn và mới biết rằng ngành này chỉ bắt đầu phát triển trên quy mô lớn lần thứ hai vào thời kỳ Càn Long của triều đại Thanh, khi tổng khối lượng thương mại nước ngoài tăng lên đáng kể.

Vào cuối triều Minh, quy mô thương mại tơ lụa còn nhỏ hơn nhiều so với thời Thanh; Anh – đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc – vẫn chưa đến Trung Quốc. Những quốc gia tham gia thương mại với Trung Quốc lúc bấy giờ chỉ có Tây Ban Nha, Hà Lan và Nhật Bản. Đặc biệt là vào cuối triều Minh, các cảng thương mại của Phúc Kiến lại đang phát triển mạnh mẽ. Các thương nhân nước ngoài ở Phúc Kiến rõ ràng thích nhập khẩu nguyên liệu trực tiếp từ khu vực Jiangnan.

Hiện nay, hoạt động thương mại tơ lụa của Viện Nguyên lão dù đã tăng lên so với trong lịch sử, nhưng nhờ vào những nỗ lực của Triệu Dẫn Cung tại Hàng Châu, sản xuất và xuất khẩu tơ lụa ở khu vực Jiangnan đã tăng lên đáng kể so với thực tế ban đầu. Tơ lụa ở Jiangnan không chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu thương mại với Nhật Bản mà còn có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu của người Bồ Đào Nha và Hà Lan.

Kết quả là sản xuất tơ lụa ở khu vực Đồng bằng Sông Châu Giang lại càng bị hạn chế. Những nông dân trồng tơ ở huyện Hương Sơn, nơi điều kiện trồng trọt vốn đã không thuận lợi, cũng không hề quan tâm đến việc áp dụng những mô hình sản xuất mới.

Nói cách khác, những nỗ lực cải thiện ngành trồng tơ nuôi tằm của Lý Mò Nhi ở Guangdong có lẽ sẽ không mang lại nhiều lợi ích thực tế. Đặc biệt là việc tăng thêm sản lượng tơ lụa có thể chỉ khiến giá bán tơ lụa xuất khẩu giảm sút hơn nữa.

Tại cuộc họp liên minh do Viện Hoạch Định tổ chức, mọi người đã tranh luận về việc có nên tiếp tục cải thiện ngành trồng tơ nuôi tằm và xây dựng ngành công nghiệp dệt may mới ở Guangdong hay không. Kết luận cuối cùng là việc cải thiện này vẫn nên được tiếp tục thực hiện – bởi vì việc nâng cấp ngành trồng tơ nuôi tằm là điều cần thiết, trong khi việc thực hiện những nỗ lực này ở khu vực Jiangnan lại gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy, phản ứng của Trần Lâm cũng không khiến cô ấy ngạc nhiên:

“Ở đây có nhiều gia đình nuôi cá không?”

“Có khá nhiều đấy.” Huyện Hương Sơn có địa hình thấp, có nhiều con sông chảy qua, điều kiện cho việc nuôi cá rất thuận lợi; số lượng ao nuôi cá trong toàn huyện thực sự rất lớn.

“Chưa bao giờ nghĩ đến việc trồng cây tằm trên bờ ao à?”

Câu hỏi này khiến

Lý Mò Nhi nói với Shen Su: “Cậu hãy kể cho ông Trần Lâm nghe về những lợi ích của mô hình ao nuôi cá sử dụng lá cây dâu này đi. Đây cũng là cách để kiểm tra xem kiến thức của cậu có vững vàng không.”

“Tôi hiểu rồi,” Shen Su đáp lại với nụ cười.

Cô nhìn về phía Trần Lâm, sau đó hạ mắt xuống. Mặc dù hôm nay mới là lần đầu tiên gặp mặt, nhưng qua những phút giao tiếp ngắn ngủi, cô đã có ấn tượng khá tốt về anh chàng này.

Dù là con trai của một gia đình giàu có, Trần Lâm lại tỏ ra khiêm tốn, lịch sự, cư xử điềm đạm và thanh lịch, không hề kiêu ngạo hay quá khiêm nhường. So với Trần Tuyên – kẻ chỉ biết nịnh bợ khi gặp họ, nhưng lại trở nên hung hãn khi đối mặt với người dân trong làng – thì Trần Lâm thực sự dễ mến hơn nhiều.

Shen Su bắt đầu giải thích: “Ông Trần Lâm ơi, mô hình ao nuôi cá sử dụng lá cây dâu này hoạt động như sau…”

Trong toàn bộ hệ thống này, sau khi thu hoạch lá dâu, chúng được dùng để nuôi tằm; phân tằm và nhộng tằm sau khi kéo tơ cũng được sử dụng làm thức ăn cho cá. Khi cá được đánh bắt lên, lớp bùn dày ở đáy ao sẽ được đào lên và sử dụng làm phân bón cho cây dâu. Vì đáy ao có độ dốc nhất định, các chất dinh dưỡng dư thừa trong đất sẽ theo dòng nước mưa trôi vào ao nuôi cá. Các chất dinh dưỡng và chất thải được tái sử dụng liên tục trong hệ thống này, không gây ô nhiễm môi trường bên ngoài, đồng thời cũng giúp tiết kiệm chi phí trong việc trồng trọt và nuôi trồng.

Một hộ nông dân có thể sắp xếp các hoạt động nông nghiệp phù hợp với từng mùa. Thông thường, vào tháng Giêng và tháng Hai, họ chăm sóc cây dâu và thả giống cá; tháng Ba và tháng Tư, họ bón phân cho cây dâu; tháng Năm, họ nuôi tằm và bán tằm vào tháng Sáu; nhộng tằm được dùng làm thức ăn cho cá; tháng Bảy và tháng Tám, họ dọn dẹp ao và sử dụng bùn ao để cải thiện độ bền của đáy ao; trong những tháng cuối năm, họ nhổ cỏ và tiếp tục cho cá ăn.

“…Nếu còn thời gian rảnh, họ cũng có thể thu hoạch lá dâu để nuôi cừu, từ đó tăng thêm thu nhập. Ông nghĩ ý tưởng này có hợp lý không?”

Trần Lâm suy nghĩ kỹ về những lời cô nói và tự hỏi không biết ai đã nghĩ ra phương pháp này! Thật là tuyệt vời. Anh trầm ngâm một lát rồi nói: “Phương pháp này thực sự rất tốt, nhưng như vậy thì những hộ gia đình nuôi tằm sẽ chỉ có thể nuôi cá mà thôi, không còn thời gian để trồng trọt nữa.”

“Bán cá và tơ rồi, liệu họ sẽ thiếu tiền mua lương thực sao?” Shen

Anh ấy đã nói ra suy nghĩ của mình, và Li cùng Shen nhìn nhau rồi cười. Lý Mò Nhi nói:

“Anh nói đúng đấy! Từ xưa đến nay, việc phổ biến các loại cây trồng mới hay công nghệ mới luôn cần một quá trình nhất định. Chúng ta phải để người dân thực sự nhận thấy được lợi ích từ chúng mới được. Hơn nữa, liệu những loại cây trồng mới hay công nghệ mới này có thích hợp với địa phương này hay không, cũng cần phải thử nghiệm trước đã. Nếu sau khi triển khai mà thất bại, thì không phải là gây hại cho rất nhiều người sao?”

“Lãnh đạo thật là có tầm nhìn xa trông rộng.”

“Nhanh thế mà đã học được cách nịnh hót rồi.” Shen Su cười nói.

“Không, không, tôi nói thật lòng mà thôi.” Khuôn mặt Trần Lâm lại đỏ lên. Trước đây, anh chưa từng tiếp xúc với những “phụ nữ kiểu Úc” như Lý Mò Nhi hay Shen Su, nên không quen với cách họ nói chuyện thẳng thắn, không che giấu điều gì cả.

“Ôi trời, da mặt anh mỏng thật…”

Lý Mò Nhi không để ý đến lời trêu chọc của học trò mình, mà ngắt lời: “Hãy nghĩ xem, trong làng ai là người phù hợp nhất để trở thành hộ mẫu trong việc áp dụng những công nghệ mới này?”

Trần Lâm suy nghĩ một lát, rồi nghĩ ra rằng người đó phải không giàu có, vì những người giàu thường không có động lực để thay đổi; thứ hai, họ phải có ao nuôi cá; thứ ba, tốt nhất là gia đình đó cũng nuôi tằm…

Sau khi suy nghĩ kỹ, anh nghĩ ra một ứng viên phù hợp:

“Gia đình Trần Kỷ là người phù hợp nhất.”

Lý Mò Nhi ra hiệu, và Shen Su lập tức lấy ra một cuốn sổ da từ túi xách của mình, tìm kiếm một lát rồi đưa cuốn sổ cho giáo viên.

Lý Mò Nhi nhìn qua, có vẻ hài lòng và gật đầu. Trần Lâm cảm thấy hơi bối rối, không hiểu họ đang xem cái gì.

“Tại sao anh lại nghĩ gia đình họ phù hợp?” Lý Mò Nhi đóng cuốn sổ lại và hỏi.

Trần Lâm trả lời: “Gia đình họ có nhiều con nhưng đất đai lại ít, cuộc sống rất khó khăn. Họ có ao nuôi cá và cũng nuôi tằm. Họ rất am hiểu về việc này. Chỉ cần đưa cho họ một số lợi ích, chắc chắn họ sẽ đồng ý.”

“Vậy cần phải đưa cho họ những lợi ích gì thì họ mới đồng ý đây?”

“Chỉ cần hứa với họ rằng, dù kết quả thử nghiệm như thế nào, gia đình họ cũng sẽ được cung cấp đủ lương thực để ăn no là được.”

“Cũng đúng. Nhưng chỉ có một gia đình thì chưa đủ, ít nhất còn phải tìm thêm ba bốn gia đình nữa.”

Trần Lâm suy nghĩ mãi, rồi nghĩ ra thêm vài gia đình khác. Lý Mò Nhi bảo Shen Su ghi chép tên những gia đình đó lại.

“Chiều nay chúng ta sẽ đến thăm những gia

1/1 0%