lore

Chương 2137: Tổ chức gây quỹ cho công tác hậu khởi

9,603 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhìn kỹ những công trình kiến trúc ở đây, dù đã xuống cấp nhưng vẫn có thể thấy được sự hùng vĩ khi chúng được xây dựng lần đầu. Các cột trụ và xà ngang đều được làm từ gỗ nan quý giá; không chỉ phòng khách chính rộng lớn và đẹp đẽ mà xung quanh còn có nhiều hội trường, lầu gác và các công trình kiến trúc khác nữa. Bên trong bao gồm phòng khách chính, phòng phụ, phòng bên, hành lang, phòng ăn, hội trường Yến Hỉ, hội trường You Qing, hội trường Yến Tịch… cùng hàng chục lầu gác khác. Ngoài ra còn có vài mẫu ruộng ao, được trang trí bằng hoa cỏ và cây cối.

“Quả thật, những người làm quan từ xưa đến nay luôn biết cách tận hưởng cuộc sống,” Giải Í Nhân thốt lên. Dù Tam Tổng Phủ này được xây dựng hơn một trăm năm trước, nhưng so với một số ngôi nhà dân thường thì tình trạng của nó còn tốt hơn nhiều. Về diện tích và quy mô, thì chắc chắn không thể so sánh được với dinh thự của mình ở Wuzhou.

Bất chợt, Giải Í Nhân nghĩ rằng nơi này hoàn toàn có thể được sử dụng để tiếp nhận người tị nạn! Nhưng ngay lập tức anh lại loại bỏ ý tưởng đó – nếu cho vài nghìn người tị nạn đến ở đây, chắc chắn sẽ phải đốt lửa nấu ăn, và nếu xảy ra hỏa hoạn thì sẽ rất nguy hiểm. Thà rằng họ được tái định cư một cách rải rác thì tốt hơn.

Tuy nhiên, những căn nhà này hoàn toàn có thể được sử dụng làm văn phòng hay xưởng sản xuất sau này…

Đang suy nghĩ như vậy, Giải Í Nhân đi đến trước cửa dinh tổng binh. Dù nơi này đã không còn tổng binh nào đóng quân nữa, nhưng trước cửa lại có một cặp trống lớn rất đặc biệt. Thân trống rất to, lớn bằng một chiếc bồn tắm massage cỡ lớn. Mặt trống đã bị hỏng nặng, còn thân trống thì càng kỳ lạ hơn nữa; không chỉ bề mặt có vân gỗ thô ráp mà hình dạng cũng không phải là hình tròn hoàn chỉnh, trông giống như là lớp vỏ của một loại thực vật nào đó.

Thấy lãnh đạo Giải Í Nhân quan tâm đến cặp trống này, một viên chức liền giải thích rằng sau khi Hàn Ung đánh bại được Dà Teng Xiá, ông ta đã cắt đứt những đoạn cây dây leo khổng lồ băng qua sông, sau đó lấy da bò phủ lên những đoạn cây đó để làm thành trống lớn, và gửi chúng đến trước cửa các dinh thự quân sự ở Quảng Châu, Wuzhou và Triệu Khánh để tưởng niệm công lao “dập tắt loạn lạc”. Người ta nói rằng khi đánh trống này, âm thanh “giống như tiếng sấm, vang xa hàng dặm”.

“Đây là cây dây leo à?” Giải Í Nhân ngạc nhiên – cây dây này phải to bao nhiêu mới được! Nhưng nhìn vào màu sắc và vân gỗ của thân trống, quả thực nó giống như câ

Hà Đông Lý trong lòng hơi ngạc nhiên, nhưng nghĩ rằng việc đến nơi thờ cúng các bậc tiền hiền để cầu nguyện cũng là điều mà một quan chức địa phương nên làm, vì vậy ông liền dẫn đường đi ngay.

Khi tin tức “Thị trưởng Đại Tống” sẽ đến đền Hàn Công để cúng bái lan truyền ra, các thuộc viên của ty cảnh sát ở thành phố Vũ Châu và huyện Thanh Ngô lập tức hành động. Trước hết, họ đã đuổi hết những người tị nạn và kẻ ăn xin đang ở lại trong đền, sau đó cử người đi kiểm soát và dọn dẹp khắp các con phố. Trong chốc lát, cả thành phố trở nên yên tĩnh. Khi Giải Í Nhân đến đền Hàn Công, các con phố đã được dọn dẹp sạch sẽ – bởi vì nghe nói người Úc rất coi trọng vấn đề vệ sinh môi trường, nên các con phố đã được quét dọn sạch sẽ và rửa qua nước sạch; chỉ thiếu việc lót đất vàng lên đường mà thôi.

Điều này cho thấy hiệu suất công việc của chính quyền vào cuối triều đại Minh không hề tồi, thậm chí còn rất tốt! Giải Í Nhân thầm gật đầu.

Không chỉ các con phố được “dọn dẹp sạch sẽ”, mà một số người có quyền lực trong cơ quan phụ trách công tác từ thiện cùng với các “lãnh đạo địa phương” cũng nghe tin và đến đó để “đón tiếp” ông.

Tuy nhiên, đền Hàn Công lại khiến ông hơi thất vọng – có lẽ vì ông đã quen với những công trình kiến trúc cổ kính, lộng lẫy được tái thiết trong thời gian trước, nên kỳ vọng của ông quá cao. Đền Hàn Công trước mắt dù có cổng vòm, nhưng nhìn vào vẫn giống như một căn nhà dân thông thường mà thôi! Dù được xây dựng bằng gạch ngói, nhưng rõ ràng là đã xuống cấp do không được bảo trì trong thời gian dài. Những tấm biển và câu đối đều bị phong hóa, chữ viết trở nên mờ nhạt.

Bước vào đền, bên trong có những cái cây cổ thụ cao vút trời; Hà Đông Lý nói rằng những cây này đều có tuổi đời hơn một trăm năm, trong đó có một cây được truyền tai là do Vương Thủ Nhân trồng.

“Vương Dương Minh cũng đã đến đây à?” Giải Í Nhân lại một lần nữa cảm thấy ngạc nhiên.

Hà Đông Lý giải thích: “Ông Dương Minh là người từng giữ chức tổng đốc Liêu Quảng vào thời kỳ Jiajing; tòa nhà Dương Minh Lâu ở cổng đông được xây dựng bởi vị tổng đốc Liêu Quảng kế nhiệm là ông Lâm Phúc Lâm để tưởng niệm ông ấy.”

Giải Í Nhân rất ngưỡng mộ Vương Thủ Nhân, vì vậy khi nghe nói ông ta cũng từng giữ chức tổng đốc Liêu Quảng tại đây, ông lập tức hối tiếc vì chưa đọc kỹ những tài liệu được biên soạn bởi cơ quan tình báo và thư viện lớn. Ông vội vàng hỏi: “Ông Dương Minh có để lại bất

Giải Í Nhân nhìn quanh thấy dù các công trình kiến trúc có hơi xuống cấp, nhưng được dọn dẹp khá sạch sẽ. Khi hỏi mới biết nơi này không có người trực tiếp canh gác; chỉ có những gia đình sống ở sân sau đền thờ mới đảm nhận việc giữ gìn và vệ sinh nó. Nghe tin “thị trưởng Đại Tống” đến cúng bái, chủ nhà cùng con trai đã vội vàng ra ngoài “đón tiếp”, thậm chí còn mời ông “ngồi lại uống trà”.

“Không cần đâu, tôi đến đây chỉ để cúng bái, thể hiện lòng thành của mình mà thôi,” Giải Í Nhân từ chối.

Nghe nói “thị trưởng lớn” muốn cúng bái, cha con nhà đó liền vội vàng chuẩn bị đầy đủ đồ dùng cần thiết, cũng như nhang thơm. Giải Í Nhân đứng nghiêm trang trước bàn thờ, cúng bái và cúi đầu theo nghi thức. Mọi người xung quanh cũng đều cúi đầu tỏ lòng kính trọng.

Hà Đông Lý và những quý ông trong hội đồng quản lý địa phương cũng đều cảm thấy ngạc nhiên khi biết vị quý ông người Úc này đi kiểm tra khắp thành phố, nhưng không hề quan tâm đến kho bạc hay tình hình giáo dục, dân sinh, mà lại đầu tiên đến xem tường thành và dinh thự chính quyền, rồi đột nhiên lại đến đền thờ Hán Ung để cúng bái. Họ tự hỏi đây là ý định gì? Tuy nhiên, điều này cũng không lạ lắm; bởi vì khi các quan chức nhậm chức, việc đi cúng bái ở nhiều nơi cũng là điều bình thường. Chỉ có một vài người nghĩ đến tin tức về cuộc nổi loạn của bộ lạc Bát Phiêu Yao gần đây – có lẽ Giải thị trưởng đang sử dụng cơ hội này để thể hiện “tham vọng lớn lao” của mình?

Ra khỏi nhà chính, hai bên sân là những hành lang; trên tường hành lang đầy những dòng thơ được viết bằng mực. Nhìn kỹ, đó là những bài thơ được khắc trên tường. Tuy nhiên, do thời gian, nhiều bài thơ đã không còn đọc được rõ nữa. Giải Í Nhân cũng từng sáng tác thơ, nên ông bắt đầu đọc từng bài thơ mà dòng chữ vẫn còn rõ ràng.

Hầu hết những người viết thơ đều ghi tên, nhưng phần lớn là những người mà Giải Í Nhân không quen biết – có lẽ họ chỉ là những quan chức làm việc ở Vũ Châu hoặc những nhà văn, học giả địa phương, người qua đường mà thôi. Có những bài thơ viết khá tốt, nhưng phần lớn chỉ ở mức trung bình mà thôi. Cho đến khi ông đọc đến một cái tên quen thuộc: Chu Ngôn Minh.

Về Chu Ngôn Minh, Giải Í Nhân biết về ông nhiều hơn so với những người được mệnh danh là “bốn nhà tài năng lớn của miền Nam”. Ông mơ hồ nhớ rằng Chu Ngôn Minh cũng từng làm quan ở Quảng Đông… Không ngờ ông ấy cũng đã đến Vũ Châu! Bài thơ mà Chu Ngôn Minh viết là m

“Những bài thơ được viết trên tường này đều là di sản văn hóa quý báu của Ngô Châu Thành, chúng ta cần phải bảo vệ chúng một cách cẩn thận.”

Mặc dù mọi người không hiểu rõ “di sản văn hóa” là gì, nhưng họ vẫn hiểu ý nghĩa của từ “di sản”, và rõ ràng là Quan lại Giải Í Nhân rất coi trọng những bài thơ này. Những người địa phương thông minh và nhạy bén đã nhận ra rằng bài thơ của Chu Yôn Minh là điều mà ông ấy quan tâm nhất, và họ lập tức ghi nhớ điều đó vào lòng.

Khi Giải Í Nhân nói ra điều này, mọi người đều đồng tình.

Sau khi rời khỏi Đền Hàn Công, Giải Í Nhân tiếp tục đến Đền Bốn Hiền và thực hiện các nghi thức lễ nghi như thường lệ. Thấy ông ấy tôn trọng các bậc hiền triết địa phương một cách sâu sắc, Hà Đông Lý cho rằng có lẽ ông ấy muốn thể hiện tinh thần “thờ cúng thần linh để giáo huấn mọi người”, vì vậy ông ấy đề xuất đến Đền Long Mẫu để thắp hương.

Trong thời Minh, thành phố Ngô Châu Thành có tới mười bảy ngôi đền cổ như Đền Thành Hoàng, Đền Quan Đế, Đền Huyền Vũ, Đền Ngũ Hiển, nhưng ngôi đền lâu đời nhất và có lễ hội thắp hương sôi động nhất chính là Đền Long Mẫu.

Tín ngưỡng về Long Mẫu đã tồn tại ở lưu vực sông Tây Giang từ rất lâu đời. Ngay từ thời nhà Jin, những truyền thuyết về cuộc đời của Long Mẫu đã được ghi chép trong các sử sách địa phương.

Theo truyền thuyết, Long Mẫu họ Văn, tên Á, sinh vào thời vua Huái Vương của nước Sở, tại xã Thủy Đông, huyện Đằng, tỉnh Quảng Tây.

Người ta kể rằng Long Mẫu đã nuôi dưỡng năm con rồng nhỏ, và sau đó với sự giúp đỡ của chúng, bà đã dẫn dắt người dân khai phá đất đai, dẫn nước, kiểm soát lũ lụt, mang lại hạnh phúc cho mọi người, giúp họ sống trong một môi trường thuận lợi. Vì vậy, gia tộc Văn được người dân trong lưu vực sông Tây Giang tôn kính là “Long Mẫu”, trở thành nữ thần ban phước và bảo vệ hòa bình cho mọi người.

Truyền thuyết về Long Mẫu phát triển mạnh mẽ ở lưu vực sông Tây Giang. Theo lời một số tu sĩ của Tân Đạo Giáo, truyền thuyết về Long Mẫu có nhiều điểm tương đồng với truyền thuyết về Mã Tử, đều là những vị thần được tạo ra từ nhu cầu tâm linh của người dân sống dọc theo sông và ven biển, mong muốn được ban phước và tránh họa.

Từ thời nhà Song trở đi, do số người tin tưởng ngày càng tăng, việc thờ cúng Long Mẫu đã được đưa vào danh sách các nghi lễ chính thức, và tín ngưỡng này cũng dần lan rộng khắp các vùng thuộc miền Nam Trung Quốc. Trong thời Minh Thanh, tín ngưỡng về Long Mẫu càng được phổ biến rộng

1/1 0%