lore

Chương 2132: Đột nhập vào nơi không được phép

9,897 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Các hệ thống giao dịch này dần được hình thành một cách tự phát trong quá trình thương mại giữa các bên liên quan, và không hề có sự can thiệp hay ưu ái đặc biệt từ chính quyền, vì vậy chúng không mang tính độc quyền hay đặc lợi gì cả. Sự cạnh tranh giữa các nhà buôn rất khốc liệt, vì vậy họ cần phải giành được sự ủng hộ của các “thủy khách” – những người đứng ra mua bán thay cho khách hàng. Trong quá trình này, họ thường phải trả tiền trước cho việc mua bán, đây là một loại kinh doanh đòi hỏi nguồn vốn khá lớn.

Hầu hết các thương nhân thuộc Hội Thương mại Lúa gạo địa phương cũng đều bắt đầu sự nghiệp từ những hệ thống giao dịch này. Sau nhiều năm tham gia vào hoạt động mua bán, họ đã quen thuộc rất tốt với các khách hàng ở cả hai phía, và sau khi tích lũy đủ vốn, họ mới chuyển sang kinh doanh chuyên nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn các giao dịch của họ vẫn tuân theo những thói quen cũ: họ chờ đợi những “thủy khách” từ Quảngxi đến mua hàng, sau đó lại chờ đợi những “thủy khách” từ Quảng Đông đến bán hàng cho họ; điểm khác biệt duy nhất là họ kiếm tiền thông qua khoản chênh lệch giá chứ không phải thông qua hoa hồng.

Trước khi vào thành phố, Giải Í Nhân đã đọc qua cuốn sách nhỏ “Tổng quan về Vũ Châu” do Cơ quan Tình báo Ngoại giao biên soạn. Cuốn sách này cung cấp thông tin chi tiết về địa lý, văn hóa, thương mại, phong tục, sinh hoạt của người dân, xã hội và những “nhân vật quan trọng” ở Vũ Châu, giúp các cán bộ mới đến tiếp cận hiểu biết cơ bản về địa phương này.

Nhờ có cuốn sách này, ông biết rõ thông tin về những “người uy tín” ở Vũ Châu, bao gồm gia đình họ, danh tiếng của họ, tình hình kinh tế… Nói chung, những “người uy tín” ở Vũ Châu cũng không khác gì những người ở những nơi khác; ngoại trừ một số ít người có danh tiếng rất tốt hoặc rất xấu, đa số họ đều chỉ làm những việc tốt trong phạm vi không ảnh hưởng đến lợi ích riêng của mình: khi có thiên tai xảy ra, họ sẽ quyên góp tiền của để cứu trợ người dân, nhưng đồng thời họ cũng sẽ tận dụng cơ hội này để chiếm đoạt đất đai và mua bán nô lệ; họ sẽ cung cấp quan tài cho những người chết trên đường, nhưng cũng sẽ bắt những người thuê đất đến cơ quan chức năng để đánh đập họ.

Thực ra, những người đứng đầu các hội đồng này cũng không thể được coi là những “người uy tín” thực thụ – không một gia đình quý tộc địa phương nào tham gia vào các hội đồng này. Sự e dè của họ cũng có thể hiểu được, tuy nhiên, trong số những thương nhân tham gia, có khá nhiều người là “quan hệ nhân” hoặc “bàn tay tr

Người dân càng thêm đói rét và khổ sở… Tất cả những điều này đều cần sự giúp đỡ của các vị.”

Mọi người nhìn nhau lo lắng, hiểu rõ ý nghĩa trong lời anh ta, nhưng vì Giải Í Nhân vừa có quyền lực vừa có uy tín, họ không thể không tuân theo ý kiến của ông ta. Ngay lập tức, họ đáp lại: “Những việc này chính là trách nhiệm của chúng ta.”

“Kẻ già Hùng Văn Tàn kia, khi bỏ chạy còn gây ra hỏa hoạn, khiến cho thành phố bị tàn phá nặng nề, người dân sống trong cảnh khốn cùng…” Giải Í Nhân trước tiên đã làm rõ trách nhiệm: Những hậu quả này không phải do tôi mà là do Hùng Văn Tàn gây ra. “Tôi đã suy nghĩ kỹ, hiện có vài việc quan trọng cần được thực hiện ngay.”

Đang nói chuyện thì bỗng nhiên, binh sĩ thông báo rằng những người mặc áo giáp từ mười hai xã trong thành phố và mười một phường bên ngoài đã đến và đang chờ lệnh.

“Hãy mời họ vào để cùng thảo luận.”

Theo lệnh của ông, những người mặc áo giáp đó bước vào. Hầu hết họ đều là những người buôn bán nhỏ, quen thuộc với địa phương và biết cách ứng phó trong các cơ quan chức năng; họ chính là những “ông trùm địa phương”.

Những “ông trùm địa phương” này biết rằng dù triều đại nào lên ngôi, họ vẫn luôn cần thiết để thực hiện các công việc cụ thể. Về mặt tài chính, họ cũng không phải là những người giàu có, vì vậy họ không hề có vẻ lo lắng như những giám đốc các tổ chức lớn. Khi bước vào, họ đều quỳ xuống chào.

“Các bạn đứng dậy đi, Viện Nguyên lão của chúng tôi không thích kiểu này đâu.” Mặc dù nói vậy, trong lòng Giải Í Nhân vẫn cảm thấy thích thú.

“…Những việc cần làm ngay bây giờ là: thứ nhất là đảm bảo an ninh, thứ hai là tăng cường phòng thủ thành phố, thứ ba là cung cấp trợ giúp cho người dân. Nếu ba việc này được thực hiện tốt, những việc tiếp theo sẽ trở nên dễ dàng hơn.”

Ba việc này không có gì đặc biệt; hôm qua, ủy ban phục hồi đã tổ chức cuộc họp riêng và đưa ra một kế hoạch phục hồi gồm mười một điểm. Cả ba việc này đều nằm trong kế hoạch đó. Vì vậy, khi ông quan Australia nói như vậy, mọi người đều đồng ý: “Lời của ngài quả thật đúng!”

“Hiện tại, trong thành phố có bao nhiêu người tị nạn?”

Giám đốc ủy ban phục hồi, ông Qiao, vội vàng lấy ra tờ giấy từ trong tay áo – ủy ban đã phát cháo trên đường phố và hàng ngày phát những que tre để thống kê số lượng người tị nạn.

“Theo số liệu từ các nơi phát cháo, có khoảng hơn bốn nghìn người tị nạn.”

“Số lượng này ít hơn nhiều rồi…” Nghe nói chỉ có hơn bốn nghì

Mặc dù số liệu trong sổ vàng không chính xác, và vì Ngô Châu Thành là trung tâm thương mại của khu vực này nên có rất nhiều người ngoại tỉnh đến sinh sống, nhưng tổng số dân cư trong khu vực thành phố cùng các vùng lân cận cũng chỉ khoảng ba bốn vạn người mà thôi. Tỷ lệ người tị nạn chiếm đến hơn bốn nghìn người đã quá cao rồi.

Sau khi Ngô Châu Thành được giải phóng, những người tị nạn ra khỏi thành phố mà ai có nhà để trở về, hoặc có người thân bạn bè để nương tựa, thì tất cả đều đã dần trở về nhà mình. Những người còn lại đều là những người tị nạn không nơi nương tựa, trắng tay trắng chân. Chỉ riêng việc đảm bảo nhu cầu ăn uống cho họ đã đòi hỏi rất nhiều công sức.

Anh ta liếc nhìn Phó Giám đốc cơ quan quản lý người nhập cư đi cùng mình, hỏi:

“Số lượng chính xác đã được thống kê chưa?”

“Đang thống kê, nhưng vì những người tị nạn rất phân tán, nên cần vài ngày mới xong,” Phó Giám đốc trả lời, “Nhưng theo lời ông Giao, con số gần như là tương đương…”

“Hiện tại, những người tị nạn đang ở đâu?”

“Hầu hết họ đang được tạm trú tại các tu viện trong thành phố, và một số khác cũng được đưa đến các sân tập bên ngoài thành phố. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều người tị nạn lang thang trên đường phố.”

Bên ngoài Ngô Châu Thành có hai sân tập, nằm tại Tam Hợp Toại và Tắm Mã Đầm. Cả hai nơi này đều từng là doanh trại của binh lính Quân Minh trước đây. Trong đó, sân tập Tắm Mã Đầm nằm cách thành phố 2,5 km về phía tây, bên bờ Bắc sông Xun, cách khá xa khu vực thành phố. Hiện nay, đây là nơi đóng quân của Tiểu đoàn thứ ba do Trần Toàn Hưng chỉ huy, còn sân tập Tắm Mã Đầm cũng được sử dụng làm nơi tạm giam tù nhân của Quân Minh; một số người tị nạn cũng được đưa đến đây để ở.

“Nếu còn những ngôi chùa hay những căn nhà lớn khác bên trong và bên ngoài thành phố có thể dùng để tạm trú cho người tị nạn, thì hãy mở cửa đón họ vào ngay,” Giải Í Nhân nói với giọng nghiêm túc, “Không được để một người tị nạn nào phải ngủ ngoài đường, hiểu chứ?!”

Việc người tị nạn sống trên đường phố không chỉ gây ách tắc giao thông mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về vệ sinh và an ninh.

“Này!”

“Được rồi.” Giải Í Nhân gật đầu, chỉ vào người thư ký bên cạnh và nói: “Hãy lấy bản đồ phân công công việc ra đây.”

Người thư ký lập tức treo lên một tấm bản đồ, đó là bản đồ khu vực thành phố Ngô Châu Thành, với tất cả các con phố bên trong và bên ngoài đều được ghi chép rõ ràng. Trên bản đồ, các khu vực khác nhau được đánh dấu bằng những màu sắc khác nhau; mỗi khu vực đề

Các bạn đừng sợ, tôi chắc chắn sẽ để những cán bộ đó đảm nhận trách nhiệm. Các bạn và những người mặc áo giáp ở khu vực này chỉ cần phối hợp tốt với họ là được.”

Giải Í Nhân cười ha hả vài tiếng rồi nói tiếp:

“Mỗi người trong các bạn đều phải phụ trách một khu vực cụ thể, cùng với những người mặc áo giáp ở các xã, các phường đi kiểm tra. Khi thấy người tị nạn ngủ ngoài trời, dù họ có muốn hay không, cũng phải đăng ký và đưa họ đến các trung tâm tiếp nhận. Nếu có ai bỏ sót, khi tôi phát hiện ra, tôi sẽ đưa các bạn về nhà… và các bạn sẽ phải tự lo cho bản thân mình…”

Điều này khiến mọi người hoảng sợ, và họ đều cam kết sẽ làm hết sức mình. Các giám đốc đều cau mày, bởi vì người này không phải là một cán bộ thông thường, mà rõ ràng là hiện thân của ông Giải. Tuy nhiên, họ chỉ gặp ông Giải vài lần trong vài ngày, trong khi “cán bộ” này lại cần phải gặp mặt hàng ngày.

Tiếp theo, Giải Í Nhân công bố thêm một số quy định:

Sau khi người tị nạn được tiếp nhận, họ sẽ được đăng ký vào danh sách và cấp “giấy chứng minh tị nạn”. Người tị nạn không được tự do di chuyển; họ phải ở lại tại các trung tâm tiếp nhận qua đêm. Ban ngày, họ sẽ theo “biên lai phân công công việc”, được tổ chức thành các nhóm gồm mười người để cùng nhau làm việc.

Chính sách cơ bản trong công tác cứu trợ và hậu khắc phục là sử dụng lao động để thay thế việc cung cấp tiền bạc.

Từ hôm nay, trạm cứu trợ chỉ cung cấp hai bữa cháo loãng mỗi ngày cho người già, trẻ em, người bệnh, người tàn tật và phụ nữ mang thai. Những người tị nạn từ 13 tuổi trở lên, nam và nữ, đều sẽ được tổ chức thành các đội lao động để làm việc và sẽ được cung cấp lương theo ngày làm việc.

Lương sẽ được tính dựa trên số công việc đã thực hiện, theo nguyên tắc “lao động nhiều thì được trả nhiều”. Tuy nhiên, mỗi người đều phải hoàn thành một lượng công việc cơ bản hàng ngày mới có thể nhận được lương; phần công việc vượt quá lượng cơ bản đó có thể được quy đổi thành tiền.

Nếu chỉ buộc người tị nạn làm việc mà không quan tâm đến hiệu suất, Giải Í Nhân sẽ không có đủ nhân lực để giám sát và quản lý. Việc sử dụng quá mức những người lao động địa phương cũng có thể gây ra xung đột. Vì vậy, quyết định cuối cùng là sử dụng “phương thức kích thích kinh tế”.

Số công việc được tính dựa trên yêu cầu cụ thể về lượng công việc phải thực hiện. Hệ thống này đã được áp dụng tại Linh Cao trong nhiều năm; có những quy định chi tiết về việc tính số công việc và số công điểm tương ứng, rất thuận tiện để thực hiện. Đây cũng là lý do khiến Giải Í Nhân dám áp dụng hệ thống này.

Thực ra, Giải

1/1 0%