lore

Chương 1681: Thẩm phán Phạm Côn Chương xét xử

9,215 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Mọi người đều bị vài câu nói của anh ta thu hút, Yùn Sùc Jí dừng lại một chút rồi nói tiếp:

“Nếu làm tổn thương đến bí thư thì không thể sống nổi; nếu làm tổn thương đến trưởng đội thì phải làm những công việc nặng nhọc; nếu làm tổn thương đến kế toán thì sẽ bị họ chỉ trích gay gắt; nếu làm tổn thương đến người quản lý tài sản thì sẽ bị họ áp bức; còn những người làm công việc vận chuyển phân thì còn bị tính sai lệch!”

Ngay khi anh ta vừa nói xong, mọi người đều bật cười. Những người nông dân này không biết “bí thư” hay “trưởng đội” là gì, nhưng họ vẫn hiểu được ý nghĩa của những lời đó. Yùn Sùc Jí biết rằng: Dưới ánh nắng mặt trời này, không có chuyện gì mới mẻ cả.

Lúc này, khoảng cách giữa mọi người đã trở nên gần gũi hơn, Yùn Sùc Jí bắt đầu hỏi về tình hình sản xuất của mọi người, liệu lương thực có đủ ăn không. Mọi người đều tranh nhau nói:

“Lương thực đủ ăn đấy, ở đây trồng trọt tốt hơn nhà chúng tôi ở quê gấp mười lần trở lên!” Người này nói, “Đất ở đây quanh năm đều có thể trồng trọt được, ngay cả những gia đình nghèo nhất cũng có thể ăn no nhờ vào bí ngô.”

“Thật là may mắn khi các cấp lãnh đạo đã đưa chúng tôi đến nơi này! Có đất để trồng trọt, ăn no, mùa đông cũng không phải chịu rét lạnh.”

“Chỉ là chúng tôi không giỏi trồng lúa nước lắm, những kỹ thuật viên nông nghiệp của Hội Thiên Địa đến đây quá ít, họ chẳng bao giờ đến những cánh đồng nhỏ như của chúng tôi cả! Họ chỉ đi đến những cánh đồng lớn của những gia đình giàu có mà thôi!”

……

“Công việc lao động quá nhiều, trồng lúa nước vốn đã khó khăn hơn so với trồng trọt trên đất khô, làm việc cả năm trời mà đến mùa đông vẫn không được nghỉ ngơi!”

Yùn Sùc Jí đã nghe nhiều lần người dân trong làng nói về gánh nặng lao động này, và anh ta cũng đã chứng kiến nhiều điều tương tự, vì vậy anh ta hỏi: “Các bạn nói rằng công việc lao động quá nhiều, thì những công việc đó cụ thể là gì?”

“Có đủ thứ mà,” Lão Dương nói, “xây đập, đào kênh, chuẩn bị đất, lát đường… có đủ thứ cả, thậm chí khi nhà máy gạch ngói cần vật liệu, họ cũng bắt chúng tôi đi giao hàng đến bến cảng! Khi xây nhà cần cát, họ cũng bắt chúng tôi đi đào lấy. Khi có hàng chở qua sông Nam Độ, chúng tôi cũng phải đi vận chuyển.”

“Xây đập, đào kênh là những việc tốt mà,” Yùn Sùc Jí không hiểu, “việc đó giú

“Có những hộ có nhiều lao động thì được đi làm một việc; còn những hộ chỉ có một người lao động thì vẫn bị giao nhiệm vụ!”

“Ngay cả khi không phải đi lao động, việc được giao nhiệm vụ cũng không ít chút nào. Tháng trước, chúng tôi bị giao việc sản xuất giày quân đội; dù nhà bạn có phụ nữ hay không, cũng đều tính theo đầu người, mỗi người hai đôi! Tôi là một người đàn ông độc thân, biết tìm ai để làm việc đây?” Một chàng trai than phiền.

……

Yun Sují hút thuốc lá trong lúc lắng nghe những lời phàn nàn xung quanh mình; mọi chuyện ở nông thôn quả thực rất phức tạp! Anh ta hoàn toàn hiểu rõ những hành động của các cán bộ cấp cơ sở – không thiếu những việc làm sai trái. Chỉ riêng những ý kiến chung của người dân hiện tại đã đủ chứng minh rằng các cán bộ này đang gặp phải những vấn đề về kinh tế. Chưa kể đến những hành vi thô bạo, đánh đập người dân mà anh ta đã chứng kiến bằng chính mắt mình… Theo lý thuyết của Học viện Nguyên lão, tất cả những điều đó đều là vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, những gì anh ta đã thấy trên đường đến đây về tình hình quản lý của làng: đường xá, nhà cửa, vệ sinh, cùng các con kênh thủy lợi… tất cả đều do người dân trong làng tổ chức và thực hiện. Những cuộc cải cách như cấm hủ tục bó chân cũng được tiến hành một cách quyết liệt. Xét về điểm này, làng này quả thực xứng đáng được coi là một làng mẫu mực. Không chỉ ở thế kỷ 17, mà ngay cả ở nông thôn Trung Quốc thế kỷ 21, Lãnh đạo Phan cũng là một cán bộ cấp cơ sở có năng lực và trách nhiệm.

Anh ta cho rằng vấn đề lớn nhất chính là việc người dân phàn nàn về “việc bắt buộc lao động”. Hiện nay, việc yêu cầu người dân lao động miễn phí đã trở thành một tình trạng phổ biến; bất kỳ việc gì cũng đều bắt người dân phải lao động. Nếu nói rằng việc làm công tác thủy lợi nông nghiệp vào mùa đông là điều hiển nhiên, thì những việc như bốc hàng, đào cát vào những ngày thường cũng đều được yêu cầu người dân thực hiện… Điều này quả thực là xem thường sức lao động của người dân, và việc lạm dụng sức lao động như vậy còn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nữa.

Anh ta suy nghĩ một lúc rồi hỏi: “Ở đây có bao nhiêu hộ trồng lúa?”

Lão Yang trả lời: “Không nhiều lắm, khoảng bốn năm hộ thôi.”

Khi tái định cư, những người tị nạn được đưa đến các làng chuẩn ở hai bên sông Nam Độ đều được phân đất hoang theo tiêu chuẩn một người lao động được phân 30 mẫu đ

Nhưng Yùn Sùc Tế rất hiểu rõ sự mong manh về kinh tế của những hộ nông dân tự cấy trồng nhỏ lẻ. Những ngày tháng tốt đẹp hiện tại của họ là nhờ vào một số yếu tố: Viện Nguyên lão không áp bức nặng nề lĩnh vực nông nghiệp; mâu thuẫn giữa đất đai và dân cư ở Hải Nam không quá gay gắt, thiên tai do hạn hán hay lũ lụt cũng ít hơn nhiều so với đại lục; hơn nữa, việc các kỹ thuật canh tác được phổ biến rộng rãi bởi tổ chức Thiên Địa Hội đã góp phần tạo nên tình hình kinh tế ổn định này.

Xét về lâu dài, những hộ nông dân tự cấy trồng nhỏ lẻ sẽ không thể duy trì được tình hình này lâu dài. Yùn Sùc Tế rất muốn biết thông tin thực sự về những “hộ sản xuất lương thực” mới xuất hiện trong số những người di cư. Ông biết rằng ở mỗi làng đều có những hộ nông dân mới giàu lên – người dân địa phương gọi họ là “hộ sản xuất lương thực”. Làm thế nào mà những hộ này giàu lên, tình hình sản xuất kinh doanh cụ thể của họ ra sao, cho đến nay vẫn chưa có báo cáo điều tra nào rõ ràng cả.

Đúng lúc ông đang muốn hỏi thêm về tình hình của những hộ sản xuất lương thực này, thì bỗng nhiên ông thấy Trưởng làng Phạm chạy đến từ phía bờ ruộng.

Kế toán làng đã sắp xếp cho các trưởng nhóm đến văn phòng làng để gặp lãnh đạo, nhưng không tìm thấy ai cả. Khi đến nhà ông Khổng, vợ chồng ông ta nói rằng họ đã theo ông Khổng xuống đồng ruộng và chỉ vừa trở lại.

Mặc dù biết rằng lãnh đạo Yùn đang ở đồng ruộng nhà ông Khổng, nhưng nhìn xa xăm cũng không thấy ai ở đó cả. Sau khi tìm khắp từ đầu này đến cuối kia, cuối cùng họ cũng tìm thấy ông. Khi ông ấy tiến lại gần, mọi người đều im lặng không nói gì cả.

Ông ta nói với Yùn Sùc Tế: “Lãnh đạo, chúng ta hãy quay trở về văn phòng làng đi.”

Yùn Sùc Tế đáp: “Được, anh cứ quay về đi, tôi vẫn cần nói chuyện thêm với họ một chút.”

Trưởng làng Phạm nói: “Nói chuyện với những người này có ích gì đâu? Chúng ta nên quay về văn phòng làng thôi! Các trưởng nhóm của mọi nhóm đã đến đủ cả, đang chờ lãnh đạo ban bố chỉ thị đấy.”

Thấy Trưởng làng Phạm có vẻ coi thường mọi người, Yùn Sùc Tế muốn tranh luận thêm với ông ta, nhưng lại nói một cách vừa mềm mại vừa kiên quyết: “Nói chuyện với họ chính là công việc của tôi. Anh cứ đi trước đi, tôi sẽ đến sau.”

Trưởng làng Phạm thấy lời nói của Yùn Sùc Tế lại không đúng ý nghĩa, cũng không dám ép buộc, nhưng lại muốn nghe xem họ đ

“Làm nhiều thứ như vậy, rốt cuộc là ai trồng cấy hết đây?”

“Dùng để nuôi súc vật, mua máy móc. Một bộ máy móc có thể thay thế được vài người làm việc; nếu thiếu người, thì cứ thuê lao động là xong,” Lão Dương nói. “Chắc chắn luôn có những gia đình khó khăn.”

“Vậy công việc lao động thì ai phải gánh vác?” Yùn Sùc Tỵ cảm thấy thắc mắc. “Nếu thuê lao động mà lại bắt họ làm công việc lao động, chủ nhân không lỗ sao? Cây trồng đâu thể đợi người được.”

“Khi đã trở thành lao động thuê, thì không cần phải làm công việc lao động nữa đâu,” Lão Dương cười một cách ý nghĩa. Mọi người xung quanh cũng bắt đầu cười; một số thanh niên còn đùa rằng: “Năm sau tôi cũng sẽ đi làm lao động thuê, để không phải làm việc lao động nữa.”

Những lời nói của người dân trong làng khiến Yùn Sùc Tỷ càng tin rằng các chủ đất mới ở làng Bác Nhượng và trưởng làng có mối quan hệ lợi ích với nhau.

Yùn Sùc Tỷ cùng với vệ sĩ trở lại trụ sở làng, thấy Trưởng làng Phạm cùng với khoảng mười mấy “trưởng nhóm” đang đợi ở sân trong. Theo “Phương pháp tổ chức làng tiêu chuẩn” của Viện Nguyên lão, mỗi mười hộ trong làng được tổ chức thành một “giáp”, và mỗi giáp sẽ có một “trưởng nhóm”, tương tự như vai trò của các trưởng bảo giáp trong hệ thống bảo giáp thời xưa.

Trưởng làng Phạm thấy người lãnh đạo đến, vội vàng dẫn các trưởng nhóm cúi chào. Yùn Sùc Tỷ vẫy tay, nói: “Đừng ngại, lần này tôi xuống làng chỉ là để tìm hiểu tình hình và lắng nghe ý kiến của mọi người thôi.” Nói xong, ông bảo Trưởng làng Phạm mang một số ghế dài đến, để mọi người ngồi xuống trong sân. Mọi người đều nói: “Không dám đâu ạ…” Sau nhiều lần thuyết phục, họ mới ngồi xuống ghế; Yùn Sùc Tỷ cũng kéo một chiếc ghế dài để ngồi.

Thấy mọi người vẫn còn e ngại, ông cười và nói: “Mọi người đừng ngại ngùng. Tôi đến đây không phải để điều tra riêng tư, cũng không phải để ‘hướng dẫn’ công việc. Tôi muốn lắng nghe suy nghĩ và ý kiến của mọi người. Cứ nói ra những gì mình muốn nói thôi, đừng ngần ngại.”

Mặc dù ông nói vậy, các trưởng nhóm vẫn còn e ngại không dám nói gì; những người lên tiếng cũng chỉ nói những câu như “Sống ở Hải Nam thì thoải mái hơn nhiều, tất cả đều nhờ vào ân huệ của Viện Nguyên lão” hay “Luôn ghi nhớ ơn đức của Viện Nguyên lão”. Yùn Sùc Tỷ thấy mọi người đều nhìn về phía Phạm Thập Nhị, có vẻ như họ đang chờ ông quyết định.

1/1 0%