lore

Chương 1648: Lương thực và cỏ cây nên được chuẩn bị trước.

9,680 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Tại thị trấn Phật Sơn, có thể thiết lập một trạm quân sự lớn, đóng vai trò là trung tâm phân phối vật tư. Anh ta suy nghĩ rằng, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi của nơi này, không chỉ có thể tiến hành mua sắm hàng tồn kho các loại vật tư quân sự như gạo, ngũ cốc, gia súc, trái cây, vải… mà còn có thể phân phát chúng một cách dễ dàng.

Trong đầu anh ta luôn suy nghĩ nhanh chóng: Một phần số vật tư đã mua được có thể được chế biến ngay tại Phật Sơn, phần khác thì được vận chuyển đến Hồng Kông để chế biến. Lúa gạo thu mua được sẽ được xay thành gạo lứt và bảo quản tại xưởng sản xuất lương thực của trạm quân sự, sau đó mới được xay thành gạo trắng để cung cấp cho các đội quân. Theo lý thuyết dinh dưỡng mà Trần Tư Căn đề xuất, hiện nay quân đội Phục Ba đã không còn ăn gạo lứt nữa. Lý do là gạo lứt cần nhiều thời gian hơn để nấu ăn, gây lãng phí nhiên liệu, và việc tiêu hóa gạo lứt cũng khá khó khăn, đòi hỏi phải nhai kỹ hơn mới có thể hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng. Trên chiến trường, rõ ràng không thể dành quá nhiều thời gian để nấu ăn.

Ngoài lương thực ra, rau củ cũng có thể được mua sắm và chế biến ngay tại Phật Sơn, biến thành dưa muối hoặc rau khô để cung cấp cho quân đội – nếu thời gian vận chuyển không quá 72 giờ, thì tốt nhất nên vận chuyển rau củ tươi thẳng đến tiền tuyến.

Còn về thịt, trứng gia cầm hay kẹo ngọt, Hồng Hoàng Nam đều có ý định sử dụng nguyên liệu địa phương để sản xuất tại chỗ. Đặc biệt là thịt, với hệ thống vận chuyển bằng đường thủy nhanh chóng và thuận tiện, thậm chí không cần phải quan tâm đến việc sản xuất thực phẩm ướp muối. Anh ta có thể tận dụng kiến thức ẩm thực của mình để chế biến những món ăn có thời hạn bảo quản lâu hơn, cung cấp cho binh sĩ trên tiền tuyến.

Sau khi vẽ xong sơ đồ, Hồng Hoàng Nam trở lại bàn làm việc. Gà gáy đã bắt đầu phát ra mùi thơm hấp dẫn. Anh ta uống một ngụm trà mà thư ký vừa mang đến, sau đó mở folder vừa được gửi đến, bên trong chứa các bản vẽ kỹ thuật của Viện Nguyên lão về các loại tàu thuyền sông được thiết kế mới để hỗ trợ cuộc chinh phục Quảng Đông.

Thực tế, Quảng Đông không hề thiếu tàu thuyền sông; chỉ riêng trên dòng sông từ Quảng Châu đến cửa sông Châu Giang, đã có ít nhất ba đến bốn nghìn chiếc tàu thuyền sông và hỗn hợp sông biển đang neo đậu quanh năm. Ngoại trừ các loại thuyền nhỏ như thuyền đánh cá hay thuyền hoa, hầu hết chúng đều có thể được sử dụng để vận chuyển hàng hóa và người. Mặc dù dung tích vận chuyển không lớn, nhưng độ sâ

Đặc biệt là cần phải chống lại các cuộc tấn công đốt phá dọc theo bờ sông. Điều này đã được rút ra từ những bài học thực tiễn: trong trận chiến tại cửa sông Châu Giang, lực lượng thủy quân lục chiến đã sử dụng rộng rãi nhiều loại thuyền gỗ thu được từ kẻ địch; những thiệt hại về thuyền trong chiến đấu chủ yếu là do các vũ khí đốt phá của đối phương gây ra, vì vậy những con thuyền này đều không được trang bị buồm.

Ban đầu, ông tập trung vào các con tàu thủy quân hiện có, đặc biệt là những chiếc xuồng ba máy có khả năng di chuyển linh hoạt. Những chiếc xuồng này có mức độ chìm thấp và được trang bị động cơ hơi nước nhỏ, rất thích hợp để hoạt động ở vùng nước nông. Ngoài ra, loại tàu kéo bánh xe 621 cũng là lựa chọn lý tưởng cho việc vận chuyển trên sông ngòi. Các thông tin tình báo cho biết loại tàu này có thể dễ dàng di chuyển đến Vũ Châu, thậm chí còn có thể tiếp tục đi xa hơn lên hướng thượng nguồn, đến tận Nanning.

Bằng cách sử dụng các tàu kéo 621 để kéo các tàu chở hàng, chúng ta có thể vận chuyển một lượng lớn vật tư và nhân viên. “Hành lang cung cấp vật tư trên mặt nước” mà Hồng Hoàng Nam hình dung ra chủ yếu dựa trên ý tưởng này. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ.

Đối với các tuyến đường chính trên sông Tam Giang, các tàu 621 có thể di chuyển một cách thuận lợi, nhưng ở một số đoạn thượng nguồn và nhiều con sông nhánh, kích thước của chúng lại quá lớn. Do đó, cần phải sử dụng những loại tàu có mức độ chìm thấp hơn, được gọi là “tàu máy nhỏ”, để thực hiện công việc vận chuyển và kéo. Loại tàu này vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên nhiều con sông ở Trung Quốc cho đến những năm 80.

Ngoài các con tàu vận chuyển, để bảo vệ an toàn giao thông thủy, trừng phạt bọn cướp sông ngòi; trong chiến đấu, để cung cấp hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng đổ bộ, đe dọa các làng mạc dọc theo bờ biển, chúng ta cũng cần phải trang bị các tàu pháo nhỏ dùng cho việc vận chuyển trên sông ngòi.

Tất cả những yêu cầu này khi được kết hợp lại với nhau, đã trở thành đề tài nghiên cứu cho các chuyên gia tại xưởng đóng tàu. Nhờ sự tự nguyện đề xuất của Thí Thiên Đào, dự án này được giao cho ông phụ trách cụ thể; còn về phía các nhà thiết kế, tất nhiên là giám đốc thiết kế duy nhất của “Viện Thiết Kế Tàu Thuyền Trung Ước”, ông Chung Tử Hằng, sẽ đảm nhận vai trò này.

Sau khi có sự phối hợp giữa Tòa án Quản lý Quân sự Tổng hợp và Viện Hoạch Định, công việc thiết kế tàu được thực hiện tại Lâm Cao, trong khi việc đóng tàu được

Hồng Hoàng Nam nhìn vào các chỉ số và thấy rằng chỉ có tuyến đường trên sông Tây Giang là không gặp trở ngại gì, nên việc di chuyển đến Vũ Châu sẽ không gặp vấn đề gì cả.

Bản đồ dạng đường thứ hai tiếp theo mô tả một chiếc tàu pháo sông có lớp vỏ bằng gỗ và thép. Nếu xét theo giới hạn 500 tấn, thì tải trọng tiêu chuẩn 260 tấn của nó chỉ đủ để được coi là một “tàu nhỏ”.

Đây là chiếc tàu pháo sông được “thiết kế tỉ mỉ” bởi Zhong Ziheng, dựa trên mẫu thiết kế của các loại tàu pháo sông mà các cường quốc đã sử dụng trên sông Dương Tử vào những năm 1920–1930. Những chiếc tàu này được trang bị các khẩu pháo có calibre lớn và một số lượng lớn vũ khí bắn nhanh loại nhẹ, do đó tốc độ di chuyển của chúng nhanh hơn nhiều so với các con thuyền gỗ trên sông. Để có thể vượt qua Tam Hiểm và đi vào đất liền Sichuan trong mùa khô, các tàu này thường có độ sâu mực nước khi chạy rất thấp.

Những yêu cầu kỹ thuật này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của Tổng Tham mưu khi triển khai các hoạt động trên sông ở Guangdong. Vì vậy, chiếc tàu pháo sông mang mã số 798 này chính là sản phẩm được thiết kế theo những yêu cầu đó bởi Zhong Ziheng. Chiếc tàu có chiều dài 54,86 mét, chiều rộng 8,23 mét và độ sâu mực nước khi chạy là 0,79 mét. Nó được trang bị hai động cơ hơi nước loại reciprocating công suất 500 mã lực và hai lò hơi đốt than. Đội ngũ thủy thủ gồm 56 người, và khi cần thiết, nó có thể vận chuyển một đại đội binh sĩ. Loại tàu 798 này hoàn toàn không được thiết kế để hoạt động trên biển; thay vào đó, nó sử dụng kiểu thiết kế dành cho các con thuyền sông có độ sâu mực nước thấp. Do không gian bên trong thân tàu hạn chế, chiếc 798 có những đặc điểm chung của các loại tàu pháo sông này: cấu trúc phần trên thân tàu dài và lớn. Cùng với hai ống khói cao và khẩu pháo 130mm loại trang bị phía trước, tổng thể thiết kế của con tàu này khiến cho phần đầu tàu trông nặng hơn so với phần thân.

Tuy nhiên, chính nhờ vào thiết kế này mà chiếc tàu có thể di chuyển trên hầu hết các tuyến đường sông ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, cũng như trên nhiều nhánh sông. Với thân hình “hùng vĩ” và những khẩu pháo lớn, sự xuất hiện của nó trên bất kỳ đoạn sông nào cũng sẽ tạo ra sức răn đe mạnh mẽ đối với các lực lượng địa phương xung quanh. Khi cần thiết, nó cũng có thể được sử dụng để vận chuyển quân đội và hàng tiếp tế. Mặc dù thân tàu được làm từ gỗ và thép, nhưng tất cả các khoang bị phơi ra ngoài mực nước đều được trang bị thép mỏng cán nóng làm vật liệu

Loại tàu pháo này có khả năng hoạt động trên mặt nước gần như là vô hạn. Trong thời kỳ Kháng chiến chống Nhật, từ các con sông nhỏ ở miền nam cho đến các dòng suối ở Quảng Đông, nơi nào cũng có thể thấy bóng dáng của chúng. Tất nhiên, trên sông Dương Tử thì không cần phải nói đến; quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa còn sử dụng chúng để ra biển hỗ trợ các cuộc chiến giành lại các đảo ven biển nữa. Những thân tàu còn sót lại tiếp tục được sử dụng làm các loại tàu phục vụ đa mục đích dọc theo bờ sông Dương Tử cho đến những năm 90.

Vấn đề là loại tàu nhỏ này sử dụng động cơ đốt trong, và khả năng công nghiệp tại thời điểm đó còn khá yếu. Thiết kế ban đầu sử dụng một động cơ hơi nước kiểu nhỏ gọn, có sức mạnh 18 mã lực, được chế tạo dựa trên thiết kế của những người yêu thích động cơ hơi nước từ Mỹ do Lý Đí mang đến. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ di chuyển và khả năng hoạt động liên tục của tàu. Thông số kỹ thuật của tàu bao gồm chiều dài 18,1 mét, chiều rộng 3,5 mét, trọng lượng khi đầy tải là 30 tấn, và được trang bị một khẩu pháo hải quân cỡ 70mm loại năm 1932 – khi gắn bánh xe thì nó cũng có thể được sử dụng như một khẩu pháo bộ binh.

“Chiếc tàu pháo này thật là xấu xí đến mức không thể chịu đựng được,” Hồng Hoàng Nam không nhịn được mà bình luận.

Tuy nhiên, dù xấu xí thế nào, đây vẫn là những chiếc tàu rất hữu ích. “Hệ thống tiếp tế trên mặt nước” thực sự cần những chiếc tàu vũ trang linh hoạt và giá rẻ như vậy để hộ tống.

Cuối cùng là loại tàu thuyền đường sông nhỏ cỡ 1024. Rõ ràng, nhà thiết kế Chung không mất nhiều công sức vào việc thiết kế nó; ông chỉ đơn giản sao chép các thông tin thiết kế sẵn có, thay đổi động cơ thành một động cơ hơi nước nhỏ gọn có sức mạnh 18 mã lực và bổ sung thêm kho chứa than. Ngoại trừ điều đó, nó không hề khác gì những “tàu thuyền đường sông nhỏ” đã hoạt động rộng rãi trên các tuyến đường thủy nội địa Trung Quốc trong suốt thế kỷ 20. Loại tàu 1024 sử dụng thiết kế đáy phẳng và mực nước thấp, tuy ngoại hình không bắt mắt và hiệu suất cũng chỉ ở mức trung bình, nhưng khả năng hoạt động trên mặt nước rất tốt và việc sử dụng chúng rất thuận tiện. Hồng Hoàng Nam quyết định sử dụng loại tàu này như một phương tiện vận chuyển linh hoạt cho các nhiệm vụ hỗ trợ chiến đấu.

“Như vậy là gần như đủ rồi… Tốt nhất là nên sản xuất một số lượng lớn các loại tàu này,” Hồng Hoàng Nam vẽ một

1/1 0%