lore

Chương 1677: Lâm Cao Thanh Mãi Quỳnh Sơn

9,595 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Yun Suji đợi cho họ đi xa rồi mới đứng dậy vỗ bụi trên mông mình; những người vệ sĩ phía sau đã vội vàng đến gần.

“Thủ lĩnh, ngài không sao chứ ạ?”

“Tôi không sao đâu,” Yun Suji nói, “Nhìn cái quan chức kia kìa, oai phong thật đấy.”

Người vệ sĩ đáp: “Ở nông thôn thì đều vậy thôi; nếu không có vẻ oai phong một chút, ai sẽ nghe lời bạn đây!”

Yun Suji không nói gì thêm. Anh ta đã làm công tác kỹ thuật nông nghiệp ở nông thôn được vài năm rồi, hơn nửa năm trong mỗi năm đều sống ở đó; vợ anh ta cũng là con gái của một gia đình nhỏ có đất đai, nên anh ta hiểu rằng những lời người vệ sĩ nói không sai lắm.

“Đi thôi, vào làng nào!”

Các làng chuẩn mực đều được xây dựng theo một mô hình thống nhất, rất ngăn nắp và đều đặn. Vì thuộc vùng Hoàng, Qiongshan không có nhu cầu về phòng thủ quân sự, nên các làng chuẩn mực ở đây không áp dụng kiểu nhà đất được thiết kế bởi Ông Văn. Tuy nhiên, để tiện cho việc quản lý an ninh, làng vẫn được xây dựng theo hình thức khép kín; những ngôi nhà ở vòng ngoài được xây dựng liền kề với nhau bằng tường, chỉ để lại bốn lối ra vào ở bốn hướng.

Yun Suji bước vào làng chuẩn mực này; ở đầu làng có một cái lán gỗ, bên ngoài có vài người phụ nữ đang ngồi may đế giày và trò chuyện với nhau. Nghe giọng nói của họ, anh ta biết họ đến từ tỉnh Sơn Đông, liền gật đầu im lặng.

Khi đang muốn bước vào làng, một người phụ nữ hỏi: “Đồng chí, ngài đến từ làng nào vậy?”

Yun Suji dừng bước lại. Người phụ nữ hỏi có vẻ khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, cao ráo, khuôn mặt tròn như trứng vịt với vài đốm nhăn nhỏ; chiếc áo len màu xanh lam được may với viền đỏ tinh xảo, dù già nhưng vẫn được giữ gọn gàng. Yun Suji trả lời: “Tôi đến đây để làm công việc từ huyện.”

“Có giấy giới thiệu không ạ?”

“Có chứ,” Yun Suji lấy lá thư giới thiệu ra khỏi túi và đưa cho người phụ nữ kia. Cô ấy cầm lấy lá thư, xem xét kỹ lưỡng; Yun Suji biết rằng cô ấy có lẽ không biết đọc, vì cô ấy chỉ nhìn vào con dấu chính thức trên lá thư mà thôi.

Các quan chức người Hóa Mã từ huyện nói rằng tỷ lệ người dân trong làng biết đọc biết viết lên đến hơn tám mươi phần trăm, nhưng có vẻ như con số đó không chính xác lắm.

Một lúc sau, người phụ nữ mới trả lại lá thư giới thiệu: “Con dấu không sai đâu, ngài cứ vào làng đi.”

Yun Suji khen: “Ở đây, việc kiểm soát an ninh thật chặt chẽ đấy.”

Mấy người phụ nữ đều nhìn anh ta một cái, nhưng không nói gì. Chỉ có người phụ nữ ban đầu mới tiếp tụ

Những con đường trong làng sạch sẽ không hề có rác thải hay chất bẩn nào; những bức tường dù không phải trắng tinh nhưng cũng được vệ sinh sạch sẽ, không hề có vết nước tiểu hay phân bẩn ở góc tường. Dọc theo các con đường, trên những bức tường trắng được viết đầy những khẩu hiệu như: “Hôm nay không trồng hoa cỏ đỏ, ngày mai sẽ phải đi làm công ở mỏ Sanya”; “Một người trộm dây điện, cả gia đình sẽ bị đi lao động cưỡng bức”; “Nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, cả gia đình sẽ mắc bệnh”; “Phụ nữ không để chân thoái mái, đàn ông sẽ bị buộc phải đi giày da”; “Vượt qua eo biển, giải phóng toàn Trung Quốc…” Yun Suji đã quen thuộc với những khẩu hiệu này khi đi xuống nông thôn, nên không mấy để tâm đến chúng. Tuy nhiên, mức độ sạch sẽ của ngôi làng này thực sự khiến anh ngạc nhiên – nó có thể sánh ngang với những ngôi làng mẫu mực nhất ở Lính Cao.

Trên đường không có nhiều người, có lẽ tất cả đều đã ra đồng làm việc. Một vài người nhìn thấy anh cũng vội vàng tránh sang một bên, không nói một lời nào.

Yun Suji cảm thấy khó hiểu, liền bước thẳng vào trụ sở làng. Bên ngoài trụ sở làng có một cây bàng lớn, có lẽ đã tồn tại từ lâu; dưới gốc cây có một cái cối đá. Yun Suji biết rằng những nơi như thế này thường là nơi người dân trong làng tụ tập trò chuyện. Nhưng vào lúc này, đang là mùa vụ nghỉ ngơi, lại không thấy một người dân nào cả. Điều này càng khiến anh cảm thấy kỳ lạ.

Trụ sở làng của những ngôi làng chuẩn mực thường có cấu trúc giống nhau: bên ngoài có một tấm bảng thông báo, dán đầy các thông báo khác nhau. Yun Suji dừng lại xem, hầu hết đều là các thông báo mới nhất về chính sách do văn phòng huyện in ra; một số khác được viết bằng giấy thô và mực, đều liên quan đến công việc của làng. Anh nhìn qua và thấy thông báo mới nhất là thông báo về việc mỗi gia đình phải đóng góp lao động, kèm theo danh sách chi tiết: bao nhiêu người trong mỗi gia đình, tên tuổi rõ ràng. Bên cạnh còn có một khu vực để đọc báo, dán đầy tờ Lính Cao Thời Báo của ngày hôm trước.

Chỉ nhìn vào tấm bảng thông báo này thôi, cũng đủ thấy rằng điều này không chỉ hiếm thấy ở nông thôn Trung Quốc thế kỷ 17, mà ngay cả ở thế kỷ 21 cũng không phổ biến lắm.

Yun Suji thầm ngạc nhiên trước mức độ quản lý cơ sở này… Liệu đây có phải là một “ngôi làng tiên tiến” không? Nếu là ngôi làng tiên tiến nhất thì chắc hẳn sẽ còn tốt hơn nữa! Anh bước vào bên trong, và thấy nơi đây cũng rất ngăn nắp: ở giữa là một sân vuông được quét dọn sạch sẽ; ba căn phòng chính dùng làm

Nhìn vào bộ trang phục của anh ta, vị cán bộ làng tuổi cao tưởng rằng anh ta là người được một làng nào đó cử đến để mang thư, liền hỏi một cách lơ đãng: “Anh từ làng nào đến vậy?”

Yun Suji trả lời: “Từ huyện Lính Cao.”

Vị cán bộ làng vẫn tiếp tục hỏi: “Đến đây để làm gì?”

Một vị cán bộ khác đang chơi cờ và vội vàng kêu: “Nhanh lên chơi cờ đi!”

Yun Suji có vẻ không kiên nhẫn và nói: “Các anh đang bận rộn quá! Đợi lát rảnh rỗi hãy nói tiếp nhé!” Nói xong, anh ta ném chiếc ba lô lên bậc thềm và ngồi xuống nghỉ ngơi.

Vị cán bộ đầu tiên thấy cách anh ta nói có vẻ không ổn, liền dừng lại chơi cờ và tiến lại gần để trò chuyện. “Không biết quý khách đến từ đâu vậy?”

Yun Suji cũng nhận ra rằng đó là một vị cán bộ trong làng, nhưng cố tình hỏi thêm: “Lãnh đạo làng đâu rồi?” Người đó đỏ mặt trả lời, và khi Yun Suji định đưa cho ông ta lá thư giới thiệu, bỗng nhiên bên ngoài có tiếng ồn ào. Nghe thấy có người hét lớn: “Lãnh đạo Phạm ơi! Lãnh đạo Phạm ơi!”

Lãnh đạo làng nhíu mày, đẩy bàn cờ sang một bên và nói: “Ta đi xem sao, không biết Yuan Hu lại làm trò gì nữa…” Anh ta không kịp gọi Yun Suji, vội vàng bước ra ngoài.

Yun Suji cũng im lặng, lẳng lặng đứng dậy và nhìn ra ngoài cửa sổ. Trong sân đã có khoảng bảy tám người, nam nữ, già trẻ lẫn lộn. Người đứng đầu là vị cán bộ trẻ tuổi vừa đánh ông Mạnh lúc nãy; áo trước ngực anh ta được mở ra, lộ ra chiếc áo sơ mi trắng bên trong, hai tay chống eo, trông rất oai vệ.

Phía sau là một số người trẻ tuổi, cầm gậy, đang kéo một người đàn ông trung niên. Người đàn ông này mặc một chiếc áo khoác bằng vải thô, được buộc chặt bằng dây, trông rất hoảng sợ. Phía sau anh ta là một người phụ nữ, khóc lóc và cố gắng tiến lại gần người đàn ông đó, nhưng bị mấy người trẻ tuổi đẩy lui.

Cuối cùng là một cô bé khoảng mười một, mười hai tuổi, đang lau nước mắt và e thẹn đi theo phía sau, được một người phụ nữ nâng đỡ.

Yun Suji tự hỏi rằng chuyện gì đang xảy ra ở đây?

Đang suy nghĩ, anh ta thấy vị cán bộ trẻ tuổi đó hét lớn: “Lãnh đạo ơi! Yan Lão Ngũ lại bắt con gái mình bó chân rồi… Vợ ông ta cũng vẫn tiếp tục bó chân con gái mình mỗi khi có người ở nhà hay không có ai ở nhà; bây giờ ông ta lại tiếp tục làm như vậy với con gái mình nữa! Điều này là hành động chống đối trung ương, là việc duy trì những tàn dư phong kiến! Chúng ta phải xử lý

Trưởng làng Phạm nhíu mày nói: “Lão Nhan ơi, đoàn tuyên truyền của huyện đã đến đây vài lần rồi đấy. Cái chuyện bó chân vợ anh thì không cần phải nói nữa; bà ấy đã bó chân suốt đời, giờ tháo ra đi lại không quen, người dân trong làng chúng ta cũng đều mặc kệ thôi. Nhưng việc anh lén lút bó chân cho con gái mình thì rõ ràng là không coi trọng chỉ thị của huyện và trung ương rồi!”

Nghe thấy câu “không coi trọng chỉ thị của huyện và trung ương”, Lão Nhan sợ đến mức chân muốn nhũn ra. Anh biết rằng những người có chức vụ cao rất ghét điều này, nhưng anh không thể tưởng tượng nổi làm sao con gái lại không được bó chân. Theo kiến thức thông thường của anh, chỉ những gia đình nghèo khó hoặc những người xin ăn mới không bó chân cho con gái; còn những gia đình còn có ruộng đất để canh tác thì chắc chắn sẽ làm vậy. Khi anh ở nhà, anh cũng từng nghe người ta nói rằng phụ nữ ở vùng trồng lúa không bó chân, nhưng anh tưởng đó chỉ là những lời nói suông. Ai ngờ khi anh đến vùng đó và bắt đầu học cách trồng lúa, các nhà lãnh đạo lại cấm việc bó chân.

Nếu không được bó chân thì cũng phải tháo ra. Lão Nhan hoảng loạn; theo quan niệm của anh, phụ nữ không bó chân ra ngoài cũng giống như không mặc quần vậy. Hơn nữa, vào ban đêm, khi vợ chồng âu yếm nhau mà không có đôi bàn chân nhỏ bé để sờ nắn thì anh cũng không thể cảm thấy hứng thú…

Con gái anh đã mười hai tuổi rồi; nếu không bó chân bây giờ thì sau này sẽ không kịp nữa. Dù ở đây việc con gái không lấy được chồng cũng không thành vấn đề, nhưng nếu không bó chân thì số tiền sính lễ sẽ ít hơn chắc chắn. Sau khi bàn bạc với vợ, Lão Nhan vẫn quyết định lén lút bó chân cho con gái mình.

Để tránh người dân trong làng biết, Lão Nhan không cho con gái ra ngoài và cũng không để ai đến nhà. Nhưng không ngờ con gái anh không chịu nổi sự đau đớn do việc bó chân gây ra, đêm nào cũng khóc lóc, và cuối cùng tin tức này đã đến tai trưởng lực lượng dân quân Lưu Nguyên Hổ.

Lưu Nguyên Hổ là một đứa trẻ mồ côi; trước khi xảy ra cuộc nổi loạn, cha mẹ anh đã mất. Trước khi anh có thể tự nuôi sống mình, anh chỉ là một đứa trẻ lang thang ở làng Đăng Châu. Từ năm mười ba tuổi, anh bắt đầu làm việc cho chủ đất, làm đủ mọi công việc nông nghiệp và sở hữu một thân thể mạnh mẽ. Chủ nhà rất thích anh vì sự chăm chỉ và khỏe mạnh của anh, luôn muốn gửi cho anh một cô hầu gái để giữ chân anh. Nhưng ước mơ đó chưa kịp thành hiện thực thì cả gia đình chủ nhà đã bị quân phiệt giết chết, và bản thân anh c

1/1 0%