lore

Chương 136: Máu mới

9,868 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Những người du hành thời gian quyết định áp dụng một mô hình quản lý dân sự hoàn toàn khác biệt cho Đội một và Đội hai tại Bạch Nhẫn Tràn – nơi họ có quyền kiểm soát hoàn toàn. Đó chính là hệ thống Xã ấp nhân dân mà Trung Quốc đã thực hiện trong giai đoạn từ những năm 1960 đến 1970 của thế kỷ 20.

Hệ thống Xã ấp nhân dân bắt đầu được triển khai từ năm 1958 và chính thức bị bãi bỏ vào năm 1985, tồn tại trong vòng 27 năm. Điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất về nó chính là nguyên tắc “một lớn, hai công”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc vận hành các xã ấp này dựa trên “Dự thảo sửa đổi Quy định về công tác xã ấp nhân dân nông thôn” năm 1962, áp dụng mô hình sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở đội, đồng thời giữ nguyên cơ chế hợp nhất chính quyền và xã hội trong các xã ấp.

Trong cơ chế này, xã ấp vừa là đơn vị chính quyền ở nông thôn, vừa là tổ chức sản xuất kinh doanh. Bí thư xã không chỉ phụ trách công tác đảng mà còn quản lý sản xuất nông nghiệp, công tác dân sự. Xét từ góc độ tiêu cực, hệ thống này khiến các xã quản lý quá mức, cơ cấu tổ chức phình to, hệ thống trở nên cứng nhắc, chế độ phân phối quá bình đẳng, khiến tính tích cực trong lao động của người dân giảm sút.

Xét từ góc độ tích cực, trong suốt 27 năm tồn tại của hệ thống Xã ấp nhân dân, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện việc kiểm soát xã hội nông thôn và người nông dân một cách nghiêm ngặt nhất từ trước đến nay – chính quyền không xuống nông thôn, tình trạng các gia tộc quyền lực chiếm giữ quyền lực cơ sở ở nông thôn đã được loại bỏ gần hoàn toàn. Trong thời kỳ mà nền kinh tế phát triển chậm, lực lượng sản xuất lạc hậu, trình độ văn hóa của toàn dân thấp, hệ thống Xã ấp nhân dân đã đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung lực lượng để thực hiện những công việc lớn và ổn định trật tự xã hội. Các lĩnh vực như dịch vụ y tế cơ bản, giáo dục phổ thông, thủy lợi, cơ khí hóa ở nông thôn đều đã phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. Sự tập trung quyền lực cao độ dưới hệ thống Xã ấp nhân dân đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của những người du hành thời gian.

Một số thành viên lo ngại về hiệu quả sản xuất nông nghiệp dưới hệ thống này: Trong thời kỳ Xã ấp nhân dân, năng suất sản xuất thực tế của mỗi lao động viên liên tục giảm sút; liệu việc áp dụng hệ thống này có gây ra những vấn đề tương tự không?

“Cá nhân tôi cho rằng điều đó không thành vấn đề,” Mã Thiên Chú giải thích, “Mục đích của hệ thống Xã ấp

Những thành viên đạt được đủ điều kiện để trở thành công nhân sẽ được hưởng các quyền lợi tương ứng theo quy định.

Mỗi hộ gia đình được cấp một mảnh đất riêng để canh tác; mảnh đất này không thể chuyển nhượng nhưng có thể được thừa kế. Việc trồng trọt gì trên mảnh đất riêng hoàn toàn do người đứng đầu hộ quyết định. Mảnh đất riêng được phân bổ dựa trên số hộ gia đình, chứ không dựa trên số người; những hộ có nhiều người sẽ được cấp thêm diện tích theo tỷ lệ nhất định. Đối với một hộ tiêu chuẩn (4 người), diện tích là 1 mảnh đất; mỗi khi số người trong hộ tăng thêm 1 người, diện tích sẽ tăng thêm 0.1, và khi đạt 1.5 thì sẽ không tăng thêm nữa – mục đích của việc này là thúc đẩy việc chia tách gia đình, nhằm tránh tình trạng nhiều thế hệ sống chung trong một gia đình lớn. Khi các gia đình chia tách ra sinh sống riêng biệt, sức gắn kết giữa các thành viên trong gia đình sẽ giảm bớt, từ đó có thể ngăn chặn hiệu quả những hành vi xấu xa có thể xảy ra do có quá nhiều nam giới trong gia đình.

Ban lãnh đạo đã xem xét đến khả năng sau khi chính sách này được ban hành, sẽ xuất hiện tình trạng “chia tách gia đình giả mạo” chỉ để nhận được nhiều đất hơn; tương tự như tình trạng “ly hôn giả mạo” xảy ra trước đây vì mục đích giải tỏa đất đai. Quy định rằng khi chia tách gia đình, chỉ những cặp vợ chồng đã kết hôn mới được cấp đất riêng để canh tác; những người độc thân muốn chia tách gia đình có thể đăng ký hộ khẩu nhưng không được hưởng đất riêng, họ phải chờ đến khi kết hôn mới được hưởng quyền này.

Nhà ở cho các thành viên sẽ được nhóm người du hành qua thời gian xây dựng chung và sau đó được bán cho họ theo các chính sách phúc lợi liên quan; tuy nhiên, mỗi hộ chỉ được hưởng quyền này một lần duy nhất. Không được phép xây dựng nhà ở riêng trong phạm vi quản lý của chính quyền du hành qua thời gian mà không có sự đồng ý của Ủy ban Nội vụ Dân sự. Nhà ở của các thành viên có thể được mua bán, tặng hoặc thừa kế tự do, nhưng chỉ sau khi họ đã thanh toán hết tiền nhà.

Ngoài mảnh đất riêng, các thành viên không được phân bổ thêm đất đai nào khác. Thu nhập cơ bản của họ bao gồm ba nguồn: thứ nhất là sản phẩm thu được từ mảnh đất riêng của mình; thứ hai là số điểm lao động nhận được khi tham gia công việc được phân công bởi xã; thứ ba là thu nhập từ các hoạt động kinh doanh phụ.

Trong số các thành viên, những người đàn ông từ 18 đến 55 tuổi và những người phụ nữ từ 18 đến 45 tuổi được coi là lao động chính. Những người đàn ông từ 13 đến 17 tuổi và từ 56 đến 65 tuổi, cùng những người phụ nữ từ 13 đến 17 tuổi và từ 46 đến 55 tuổi, được coi là lao động bán chính. Về nguyên tắ

Hệ thống quản lý của xã áp dụng cơ chế ba cấp: xã – làng – nhóm thành viên. Nhóm thành viên là đơn vị cơ bản nhất, mỗi nhóm gồm từ tám đến mười hộ gia đình; trong mỗi nhóm có trưởng và phó trưởng, có trách nhiệm truyền đạt các chỉ thị của chính quyền, giám sát và kiểm soát hoạt động của các thành viên.

Làng, với tư cách là cấp chính quyền cơ sở, được tổ chức thành ủy ban làng, nhóm sản xuất, nhóm dân quân và nhóm phụ nữ. Khác với những làng được quản lý gián tiếp như làng Muối, các tổ chức hành chính trong làng thuộc xã Bách Nhẫn đều phải tuân theo sự lãnh đạo của xã.

Ở cấp xã, có các cơ quan hành chính và khoa học giáo dục như văn phòng xã, phòng tài chính, phòng sản xuất, phòng tuyên truyền, phòng giáo dục văn hóa, văn phòng tư pháp, đội dân quân, liên đoàn phụ nữ, trạm y tế, trạm kỹ thuật nông nghiệp, đài phát thanh, trường tiểu học cơ sở và trường mầm non. Tuy nhiên, do thiếu nhân viên chuyên môn, hiện tại các cơ quan này mới chỉ là kế hoạch và cần được hoàn thiện dần theo thời gian.

Mọi thành viên xã có khả năng lao động trên nửa ngày đều phải nộp 5% thu nhập hàng năm vào ngân sách thuế, bất kể thu nhập đó đến từ công việc hay lương công ty. Thu nhập từ đất canh tác riêng được miễn thuế nông nghiệp, còn thu nhập của những thành viên dưới 15 tuổi thì được miễn thuế hoàn toàn. Ngân sách thuế này được chia sẻ theo tỷ lệ 4:6 giữa người đi qua thời gian và xã; xã sử dụng số tiền này để chi trả cho các chi phí hành chính hàng ngày và lương cho những người không tham gia lao động trực tiếp.

Tại công trường đang hoạt động sôi động bên ngoài cổng nam của thành phố Bách Nhẫn Thành, trước cửa một căn nhà đã được xây dựng xong đầu tiên, có treo một tấm biển gỗ màu trắng với chữ đen: “Xã Bách Nhẫn Đầm”. Chủ tịch xã được Ô Đức đảm nhiệm; thành thật mà nói, hiện tại có lẽ không ai trong số những người lao động tích cực ở đội sản xuất có thể hiểu hết những thuật ngữ phức tạp trong “Quy định quản lý tổ chức xã”. Ngay cả bản thân Ô Đức cũng thường xuyên phải gọi điện cho ủy ban thực hiện để hỏi thêm thông tin chi tiết.

Lâm Hưng được bổ nhiệm làm phó chủ tịch, nhưng anh không ngay lập tức nhận chức mà cùng với một số người khác được cử đến làng Muối tham gia khóa đào tạo cán bộ đầu tiên do Đỗ Văn tổ chức tại trường học nông dân làng Muối. Lâm Hưng và những người khác đều hiểu rằng mình đang được chuẩn bị để “làm quan” – những người lãnh đạo gọi đó là “được thăng chức”. Điều này khiến họ cảm thấy vừa bất ngờ vừa lo lắng. Trước khi lên đường, Ô Đức đã gọi mọi người đến công trường và chỉ vào một ngôi nhà cao tầng đang được xây dựng:

“Sau này các bạn sẽ số

“Tất nhiên, chúng tôi luôn giữ lời hứa.”

“Vậy cần bao nhiêu tiền để có thể ở đó…” Lâm Hưng không hề ngây thơ đến mức nghĩ rằng những kẻ này sẽ tặng nhà cho họ miễn phí.

“Sáu mươi lượng bạc; nếu các bạn là công nhân mua nhà, chỉ cần trả năm mươi bốn lượng là được.”

Mức giá này không gây ra nhiều xôn xao; xét theo mức giá và thu nhập vào cuối thời Minh, đó là một mức giá bình thường. Khi biết rằng số tiền đó có thể được thanh toán thành từng đợt trong vòng mười hoặc hai mươi năm, nụ cười trên mặt mọi người càng trở nên rõ rệt hơn: được ở nhà trước rồi mới trả tiền sau, thật là một điều may mắn hiếm có.

Chẳng mấy chốc, tin tức này đã lan truyền khắp đội sản xuất. Mỗi ngày sau khi tan ca, luôn có người đến công trường để xem những căn nhà tương lai sẽ thuộc về họ; Mã Bồng cũng là một trong số đó. Sau khi trở về đội sản xuất, theo quy định dành cho những người lao động có gia đình, anh được phân một cái lều riêng. Những thứ rách rưới mà anh mang theo đều bị tịch thu; tuy nhiên, như một khoản bồi thường, anh được nhận quần áo mới, chiếu và chăn. Điều duy nhất khiến anh không hài lòng là mẹ mình cũng phải trải qua “quá trình thanh lọc” giống như những gì anh đã từng trải qua trước đây… Nhìn thấy mẹ mình mặc quần áo mới và đầu quấn khăn, tâm trạng của Mã Bồng trở nên rất phức tạp – những kẻ này thực sự không tôn trọng người già.

Tuy nhiên, sau khi trở về làm việc nông nghiệp, anh đã quyết định từ bỏ công việc ở nhà của Phù Bất Nhị. Lý do chính không phải vì ăn uống ở đó tốt hơn, mà là vì anh nhận ra mình không thể quen với việc bị bọ ve cắn, với những ngôi nhà tối tăm, hỏng hóc, và với nguồn nước đục nghớp… Mặc dù ở đó không hẳn là sống sung sướng, nhưng những điều tưởng chừng bình thường trong cuộc sống hàng ngày ở đó lại là những thứ mà anh không thể có được trong cuộc sống trước đây.

Bây giờ, Mã Bồng đang làm việc tại một xưởng sản xuất gạch ngói; hàng ngày, anh phải đào đất và sàng đất. Tiếng máy móc ầm ĩ đã không còn khiến anh cảm thấy tò mò hay ngạc nhiên nữa. Xung quanh anh và đồng nghiệp không còn sự hiện diện của những tay súng canh gác của những kẻ đó nữa, nhưng niềm đam mê lao động của họ lại tăng lên một cách chưa từng có – họ đang cùng nhau xây dựng ngôi nhà của mình. Một cuộc sống mới, hoàn toàn khác biệt so với quá khứ, đang bắt đầu.

1/1 0%