lore

Chương 2150: Bố trí phòng thủ

9,624 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trên sân tập, những ngọn nến thông sáng rực rỡ được thắp lên, và mọi người tập trung theo từng đội. Bảng đen được làm ngay tại chỗ, bằng cách quét mực đen lên những tấm gỗ; hoặc thì dùng những chiếc bàn vẽ hay bàn gỗ của các gia đình giàu có để thay thế. Chỉ có phấn viết là được vận chuyển từ Linh Cao đến – việc vận chuyển những vật tư “không liên quan đến chiến đấu” như những cái thùng gỗ hay phấn viết đã khiến Bộ trưởng Hồng phải than phiền không ngớt: những thứ này làm tăng đáng kể độ phức tạp trong công tác hậu cần và vận chuyển.

Các giáo viên đều là những cán bộ và sĩ quan gốc Hoa ở Quý Châu, tất cả đều có bằng cấp ít nhất là loại B. Nội dung giảng dạy chủ yếu là giúp mọi người biết đọc biết viết. Tỷ lệ biết chữ ở thời điểm này khá thấp; đa số binh sĩ đều xuất thân từ tầng lớp nghèo khó, tỷ lệ người mù chữ rất cao. Theo kết quả khảo sát ban đầu khi nhập ngũ, hầu hết binh sĩ chỉ có thể nhận ra tên mình; và những cái tên đó cũng rất đơn giản, như “Chen Đại Vương Thập Lăm” v.v.

Wei Aiwen thuộc Phòng Chính trị Tổng tham mưu đã nêu rõ trong “Sắc lệnh về giáo dục văn hóa” gửi đến toàn quân rằng “giáo dục văn hóa” và “giáo dục chính trị” là hai khía cạnh không thể tách rời nhau. Việc giáo dục văn hóa cần phải đồng thời thúc đẩy giáo dục chính trị một cách tiềm ẩn. Vì vậy, Văn phòng Chân lý và Phòng Chính trị đã biên soạn riêng cuốn “Giáo trình giáo dục văn hóa quân đội”, và hàng năm đều sửa đổi nội dung theo tình hình thực tế.

Nội dung cuốn “Giáo trình” mới nhất bao gồm những khẩu hiệu được thiết kế đặc biệt cho chiến dịch xâm lược đại lục, như: “Chúng ta phải cứu giúp những đồng bào đang chịu khổ”, “Những người dân bị áp bức hãy đứng dậy đón chào Viện Nguyên lão”, “Lật đổ chính quyền bạo ngược của nhà Minh giả mạo”, “Khi Viện Nguyên lão đến, mọi người sẽ có cơm ăn”… Những câu khẩu hiệu này được dạy cho binh sĩ để họ có thể viết lên tường. Người đưa ra ý tưởng này chính là Giải Nguyên Lão – người luôn rất coi trọng vai trò của công tác tuyên truyền. Vì vậy, Giải Nguyên Lão đã đặc biệt yêu cầu Tiền Đa phải quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục văn hóa và chính trị cho quân đội quốc dân.

Giai đoạn đầu tiên của quá trình giáo dục là huấn luyện đọc viết cơ bản, bắt đầu từ việc dạy những chữ cái đơn giản, sau đó mới dần dần hướng dẫn các từ vựng và câu ngắn liên quan đến quân sự và chính trị. Quy trình này được thực hiện một cách từ từ và có hệ thống.

Tuy nhiên, đối với những binh sĩ mới nhập ng

Dương Nhị Đông vì buồn ngủ mà bị phạt đứng suốt nửa giờ; trong thời gian đó, anh ta cũng liên tục ngáp, đến nỗi nước mắt và nước mũi đều chảy ra. Cơ thể anh ta đau nhức khắp nơi, và tầm nhìn của anh ta cũng trở nên mờ ảo. Bóng dáng của “vị sĩ quan” đang đi lại phía trước chiếc bàn, nhưng anh ta không thể nhìn rõ hoặc hiểu được ông ta đang làm gì. Anh ta thậm chí không nghe thấy tiếng “giải tán”; mãi cho đến khi Lý Bác Đôn kéo anh ta một cái, anh ta mới tỉnh táo lại và vào nhà ngủ.

Sau một ngày vất vả như vậy, mọi người đều mệt đến kiệt sức; họ nằm xuống ngủ ngay, nhưng vào sáng hôm sau, tiếng kêu dậy đã vang lên trong doanh trại. Hầu hết các binh sĩ vẫn chưa quen với tiếng này, nên họ không kịp phản ứng; chỉ đến khi tiếng trống tập hợp vang lên, họ mới bị đánh thức khỏi giường.

Và thế là ba đội trung đoàn lại phải đứng đợi trên sân tập suốt nửa ngày, chịu đựng cơn đau do chân tay co cứng, cùng với những trận đòn roi tàn nhẫn từ các huấn luyện viên – ai phát ra tiếng kêu thì sẽ bị thêm một đòn nữa và bị chê là “giống con gái”.

Việc làm lính trong tình hình này khiến những binh sĩ mới nhập ngũ này rất than phiền. Mặc dù các quan chức của Đại Minh cũng đánh người, và đánh còn dữ dội hơn nữa, nhưng thông thường họ ít khi tiến hành rèn luyện; vì vậy, cơ hội bị đánh cũng ít hơn nhiều. Trong khi đó, các quan chức quân đội người Úc này luôn xuất hiện trước mắt họ, và mỗi khi họ đưa ra một mệnh lệnh, nếu không hiểu hoặc mơ màng, họ sẽ bị đánh.

Nhưng khả năng tiếp thu của con người là vô hạn; rất nhanh sau đó, việc không hiểu giọng điệu của các huấn luyện viên đã không còn là vấn đề nữa.

Mỗi ngày đều là những giờ luyện tập không ngừng nghỉ: dậy theo tiếng kêu, dọn dẹp chỗ ở, tập hợp thành đội, rèn luyện thể chất, ăn sáng, tiếp tục luyện tập, ăn trưa, tiếp tục luyện tập, ăn tối, học các bài học văn hóa, sau đó lại tập hợp trên sân tập và chạy vài vòng, cuối cùng là xếp hàng trở về ký túc xá để ngủ. Cuộc sống thật là nhàm chán và khó khăn.

“Chúng ta giống như những con vật bị buộc phải làm việc vất vả vậy!” Lý Bác Đôn thì thầm trong lòng cùng với các binh sĩ khác. Mỗi ngày, họ chỉ biết ăn và ngủ, còn lại thì chỉ đi lang thang trên sân tập; nếu huấn luyện viên không hài lòng, họ sẽ bị buộc phải tham gia các buổi “luyện tập ban đêm” hay “tập hợp khẩn cấp ban đêm” để tiếp tục bị tra tấn.

Điều đáng sợ nhất là những “kỳ thi”. Từ những bài tập đơn giản nh

Vì vậy, mọi đại đội đều áp dụng phương thức học tập kiểu học sinh tiểu học: người dẫn đọc một câu, cả nhóm lại lặp theo. Dù bạn có hiểu hay không, trước hết phải thuộc lòng nó đã. Những ai không thuộc lòng sẽ bị trừng phạt bằng roi và phải đứng đồng tử.

Việc huấn luyện này trở thành cơn ác mộng của các binh sĩ, đến nỗi những giờ làm nhiệm vụ trong thời gian nghỉ giải lao lại trở thành điều mà mọi người mong đợi nhất. Việc canh gác, tuần tra hoặc làm công nhân xây dựng không hẳn là những công việc dễ dàng, nhưng so với việc sống trong tình trạng lo lắng, sợ hãi trên sân tập thì vẫn tốt hơn nhiều. Khi nhập ngũ vào quân đội Đại Minh, điều mà mọi người sợ nhất chính là phải “ra trận”; nhưng bây giờ, họ lại có một loại kỳ vọng khó hiểu đối với việc “tham gia nhiệm vụ”, “đi chiến”. Dù chiến tranh có nguy hiểm đến đâu, ít ra cái chết hay sự sống còn mang lại cảm giác mãnh liệt; còn những buổi tập luyện không ngừng nghỉ này thực sự khiến cuộc sống trở nên như muôn ngày trôi qua một cách chán chường.

Cuối cùng, ngày đi tham gia nhiệm vụ cũng đến. Hôm đó, Tiền Đa nhận được lệnh từ Trần Toàn Hưng yêu cầu ông ta ngay lập tức điều động một đại đội đến khu vực huyện lâm Phong Xuyên để hộ tống đoàn tàu vận tải trên đường thủy.

Từ Ngô Châu Thành xuống, trên dòng sông Tây Giang, có một đoạn nước cạn, nơi này không chỉ nguy hiểm mà còn rất nông, đến mức ngay cả các tàu pháo hạm có độ sâu chèo không quá 1 mét mới có thể đi qua được.

Mặc dù tình hình ban đầu rất căng thẳng, với những cuộc tấn công thường xuyên xảy ra dọc theo bờ sông, nhưng đoàn tàu vận tải khi di chuyển trên tuyến đường sông Tây Giang hầu như không gặp phải nguy hiểm nghiêm trọng. Đa số các đoàn tàu vận tải từ Tam Thủy đến Ngô Châu Thành đều di chuyển theo hình thức kéo theo nhau bằng tàu kéo, vì vậy rất ít khi xảy ra tình trạng tàu bị nước cuốn vào bãi cát. Các tàu pháo hộ tống có sức mạnh hỏa lực mạnh mẽ, đủ để đẩy lùi những cuộc tấn công nhỏ lẻ từ bờ sông; hơn nữa, dòng sông Tây Giang khá rộng lớn, vì vậy dù là bọn cướp bóc hay những người dân Yao nổi loạn sử dụng vũ khí ném xa, họ cũng không thể đe dọa được đoàn tàu vận tải ở hầu hết các đoạn sông.

Tuy nhiên, trong lần hộ tống gần đây nhất, đoàn tàu vận tải đã bị tấn công ngay sau khi đi qua huyện lâm Phong Xuyên, tại một đoạn nước cạn trên tuyến đường sông Tây Giang. Trên tuyến đường sông Tây Giang có nhiều đoạn nước cạn, vì vậy mỗi lần di chuyển, họ đều phải

Nhưng vụ tấn công này đã khiến Tư lệnh hậu cần và trụ sở của Lữ đoàn thứ nhất ở Triệu Khánh phải hoảng sợ – tuyến đường thủy Tây Giang không thể nào tiếp tục được đi lại một cách an toàn nữa.

Là biện pháp khẩn cấp, theo sắp xếp của Lữ đoàn thứ nhất, các huyện dọc theo tuyến Tây Giang bắt đầu tổ chức các đội tuần tra hộ tống tàu thuyền. Các đội tuần tra này do các đại đội quân quốc dân của các huyện phối hợp để cử người tham gia, thực hiện việc hộ tống từng đoạn đường một. Khi các đoàn tàu thuyền di chuyển, quân quốc dân sẽ sử dụng thuyền máy để tuần tra và bảo vệ. Khi gặp những đoạn sông hẹp, những điểm cao hoặc các vùng nước nông, họ sẽ lên bờ để canh gác; trong trường hợp xảy ra tấn công, họ sẽ lên bờ để đẩy lùi kẻ xâm nhập. Việc tuần tra này cũng có tác dụng duy trì trật tự an ninh hai bên bờ sông Tây Giang, kiềm chế các băng đảng cướp bóc và lực lượng vũ trang của người Dao.

Tiền Đa ở Ngô Châu Thành cũng nhận được lệnh tương tự. Vì đơn vị quân quốc dân của Ngô Châu Thành có quy mô lớn nhất, nên khu vực họ phụ trách cũng rộng lớn nhất, bao gồm toàn bộ đoạn sông từ Ngô Châu Thành xuôi dòng cho đến Xintan.

Đoạn sông này có bốn vùng nước nông là Tự Long Châu, Giới Thu, Bàn Long và Xintan; độ sâu của các vùng nước nông này khác nhau, nơi sâu nhất khoảng 3 mét, nơi nông nhất chỉ khoảng 1 mét. Dù độ chênh lệch chiều cao của dòng sông không lớn và dòng nước khá ổn định, nhưng vì có nhiều bãi cát và đá ngầm, việc di chuyển của các đoàn tàu thuyền vẫn gặp nhiều khó khăn. Việc vượt qua các vùng nước nông này tiêu tốn rất nhiều thời gian, và tốc độ di chuyển của các con tàu giảm xuống thậm chí còn chậm hơn cả khi đi bộ. Điều này thực sự là điểm yếu lớn đối với kẻ thù nếu họ tiến hành tấn công trên bộ.

Tiền Đa và Trần Tứ đã cùng nhau xem xét bản đồ và nhận thấy rằng nhiệm vụ này khá gian nan. Đoạn sông từ Ngô Châu Thành xuôi dòng đến Xintan dài khoảng 50 km. Ngay cả khi các đội tuần tra hoạt động thuận lợi nhất, họ cũng cần ít nhất hai ngày mới có thể hoàn thành một chuyến tuần tra đầy đủ.

Trần Tứ nói: “Vùng Tự Long Châu không có vấn đề gì cả; nó cách Ngô Châu Thành chỉ 3,5 km thôi. Nơi đó vốn thuộc phạm vi khu vực canh gác của Ngô Châu Thành, và đội quân của Đại tá Trần thường xuyên tuần tra ở đó. Vấn đề chính nằm ở những bãi cát phía dưới.”

“Nếu muốn đảm bảo an toàn tuyệt đối, mỗi lần tuần tra chúng ta cần phải cử ít nhất một đại đội tham gia,” Tiền Đa nói. “C

1/1 0%