lore

Chương 1016: Súng trường kiểu Nam Dương

9,811 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ban đầu, Tổng đội Ngư nghiệp sở hữu khá nhiều tàu thuyền, nhưng chúng đều nhỏ, cũ kỹ và có trọng tải thấp; tình trạng vận hành của chúng rất kém, vì vậy các tàu này chủ yếu hoạt động ở vùng biển gần bờ, xa nhất cũng chỉ đến khu vực Vịnh Bắc Bộ. Bây giờ, khi phải thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên biển ở các quần đảo Tây Sa và Đông Sa, rõ ràng là các tàu này không đủ sức mạnh để đảm nhận công việc này. Minh Thu đã chọn ra một số tàu thuyền có tổng dung tích dưới 100 tấn từ đội tàu đặc nhiệm để giao cho Tổng đội Ngư nghiệp. Yêu cầu duy nhất là các tàu này phải được trang bị vũ khí nhất định, để có thể thực hiện nhiệm vụ tuần tra vũ trang trong khu vực biển giữa Đông Sa và Tây Sa.

Ban đầu, Viện Nguyên lão hy vọng Lâm Truyền Thanh có thể cải tạo một số tàu săn cá voi; cá voi là nguồn tài nguyên quý giá – đặc biệt là dầu cá, vốn là nguồn cung cấp chính chất béo cho ngành công nghiệp thời bấy giờ, và đóng vai trò thiết yếu đối với hệ thống công nghiệp của Viện Nguyên lão, nơi đang thiếu hụt chất béo nghiêm trọng. Còn xương và sợi răng cá voi thì nhờ vào độ đàn hồi cao của chúng, cũng có ý nghĩa quan trọng trong công nghiệp. Tuy nhiên, thông tin từ Thư viện Lớn đã làm cho những người muốn tiến hành hoạt động săn cá voi phải thất vọng: Biển Nam Hoa thực sự không phải là nơi sinh sống của cá voi; chỉ có thỉnh thoảng mới có vài con cá voi đi ngang qua đây. Trước khi có thể tiến hành hoạt động săn cá voi thương mại ở Bắc Hải hay Hawaii, điều đó vẫn còn là điều không thể.

Vì vậy, tất cả các tàu thuyền mới được cung cấp đều được cải tạo thành tàu câu cá bằng phương pháp kéo dây dài. Quá trình cải tạo không quá phức tạp, chỉ cần lắp đặt một máy kéo bằng sức người và hai chiếc thuyền phụ trợ. Vì không có máy kéo có động cơ, việc thu và thả dây câu diễn ra khá chậm. Sau khi thả dây xuống biển, trừ trường hợp đặc biệt, các thuyền phụ trợ sẽ kiểm tra các boong, dây câu và thu hoạch sản phẩm, đồng thời thay đổi mồi câu. Ngoài ra, khoang dưới đáy tàu cũng được cải tạo thành “kho lạnh”; cá vừa được đánh bắt lên sẽ được xử lý sơ bộ rồi cho vào kho để bảo quản. Trên các tàu buồm, do không có động cơ làm lạnh, nên không thể lắp đặt kho lạnh sử dụng ga; việc bảo quản lạnh chỉ có thể thực hiện bằng cách sử dụng băng được bọc bằng vật liệu cách nhiệt.

Lâm Truyền Thanh đã mời một chuyên gia về kỹ thuật nhiệt để thiết kế kho lạnh dành cho tàu thuyền. Lớp cách nhiệt của kho lạnh được thiết kế với nhiều lớp vật liệu cách nhiệt; ngoài các loại vật liệu như bông gòn,

So với lượng bông gòn hoang dã ít ỏi thu được qua việc thu thập và mua lại, cùng với các loại mùn cưa và đất diatom có giá trị sử dụng khác, lá và lông của cây bông gòn đã trở thành nguyên liệu cách nhiệt rẻ tiền và hiệu quả nhất mà Tập đoàn Du hành có thể sản xuất hàng loạt vào thời điểm này. Chúng thường được trộn vào bông để tạo ra chăn ga cần thiết cho các động cơ, và hầu hết những chiếc gối mà các bậc trưởng lão và phục nữ sử dụng cũng được lót bằng lông bông gòn.

Mặc dù lượng lông bông gòn sản xuất ra khá lớn, nhưng vì cần đảm bảo nguồn cung vật tư cho khu vực phía Bắc, nên tổng cộng chỉ có mười con tàu lạnh của Lâm Truyền Thanh được cải tạo; ba con được sử dụng ở khu vực Vịnh Bắc Bình, sáu con ở Sanya, và hai con còn lại được triển khai tại Hồng Kông – nơi các con sông lớn đổ ra biển và cũng là vùng có nguồn cá dồi dào.

Những món sushi và sashimi được phục vụ tại buổi tiệc chính là minh chứng cho lợi ích của những con tàu lạnh này. Ban đầu, Ngạn Dương Yến còn nghĩ rằng người dân địa phương có thể không thích những món ăn này, nhưng không ngờ chúng lại được đón nhận nồng nhiệt. Những đĩa thức ăn liên tục được bày ra và nhanh chóng được tiêu thụ hết.

“Đây là Quảng Đông – nơi mọi người luôn có thói quen ăn cá sống, từ cá nước ngọt đến cá biển,” người đứng đầu xưởng đóng tàu, Thí Thiên Đào, nói trong lúc cầm ly rượu và có vẻ hơi say, “Thôn Đức gần đây lắm, cá sống ở đó nổi tiếng lắm…”

Thí Thiên Đào rất vui mừng: Dự án đóng tàu H800 Hòa Bình do ông phụ trách cuối cùng cũng đạt được nhiều thành quả sau một giai đoạn vận hành gặp nhiều trở ngại. Việc đào tạo công nhân cho các xưởng đóng tàu địa phương, cung cấp các dụng cụ đo lường chuẩn hóa đều đã mang lại hiệu quả; đặc biệt là sự hỗ trợ quan trọng từ Viện Hoạch Định: việc phê duyệt xây dựng một nhà máy chế biến gỗ tại Hồng Kông, để xử lý nguyên liệu gỗ vận chuyển từ Quảng Đông và Phúc Kiến, đồng thời sản xuất hàng loạt vật liệu đóng tàu tiêu chuẩn như cột buồm, ván thân tàu, thanh sàn… Những biện pháp này đã giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng tàu H800 Hòa Bình. Thí Thiên Đào nhận thấy rằng người dân địa phương thực sự có khả năng học hỏi tốt và thông minh, chỉ là do quá lâu sống theo lối cũ mà họ bị che mờ tầm nhìn; khi có người mở ra những con đường mới và hướng dẫn cách thực hiện một cách cụ thể, họ sẽ nhanh chóng theo kịp và thậm chí có thể áp dụng những kiến thức đó vào những tình huống khác. Các xưởng đóng tàu địa phương, dưới sự thú

Thực tế, xưởng đóng tàu ở Hồng Kông chính là nơi thực hiện công việc lắp ráp các bộ phận cần thiết cho tàu. Những khúc thép cứng và thanh thép dùng để chế tạo thân tàu được gia công sẵn tại Bốc Pù rồi vận chuyển đến Hồng Kông bằng tàu lớn; những bộ phận bằng gỗ đơn giản hơn thì được các xưởng đóng tàu và xưởng mộc địa phương tại cửa sông Châu Giang sản xuất theo hợp đồng và vận chuyển đến Đảo Hồng Kông. Các bộ phận gỗ phức tạp hơn thì được các xưởng chế biến gỗ chế tạo. Cuối cùng, quá trình lắp ráp hoàn chỉnh được thực hiện trên các bãi đá cuội.

Cuối cùng, trước ngày kỷ niệm D, xưởng đóng tàu ở Hồng Kông đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất 28 con tàu – không chỉ hoàn thành đúng hạn nhiệm vụ được giao mà còn vượt mục tiêu đề ra bằng 4 con tàu nữa. Những con tàu này sau đó được cải tạo thành tàu vận chuyển than.

Khi nhận ra rằng công việc đóng tàu của mình sẽ hoàn thành đúng hạn, Thí Thiên Đào vô cùng vui mừng đến mức say mèm – vị thế của ông trong Viện Nguyên lão đã được đảm bảo, và sự giàu có luôn đến từ những rủi ro mạo hiểm.

Hôm nay, khi nhìn thấy đoàn tàu vận chuyển do chính mình chỉ đạo xây dựng sắp ra khơi thực hiện nhiệm vụ liên quan đến động cơ, tâm trạng của ông càng thêm vui mừng; ông uống thoải mái soda, nước ép trái cây pha với rượu rum.

“Nhà thầu của anh cũng đã đến à?” Hồ Thủy Nguyên hỏi, hôm nay ông đã mời những thương nhân địa phương có quan hệ thương mại với họ.

“Đã đến rồi. Còn có nhóm khách hàng thuộc tổ chức Thiên Địa Hội do Lạc Xuyên dẫn đầu nữa.”

Tại buổi tiệc chiêu đãi, có rất nhiều người địa phương “thượng lưu” mặc áo lụa xa hoa, cùng với một số học giả và quý tộc. Với vai trò là người phụ trách kinh doanh địa phương và đồng thời là người liên lạc với bên ngoài, Hồ Thủy Nguyên cầm ly rượu, vui vẻ trò chuyện và giao lưu với các đối tác địa phương.

Hầu hết những đối tác địa phương này đều là những chủ đất nhỏ, có hoạt động kinh doanh tại bán đảo Cửu Long đối diện Vịnh Thánh Nữ và các huyện Đông Quán, Hương Sơn phía bắc. Chịu ảnh hưởng của làn sóng kinh tế thương mại thời Minh, họ đã sớm bắt đầu trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế, đặc biệt là cây indigo và cây dâu tằm. Indigo, tơ lụa đều là những mặt hàng xuất khẩu chính của Viện Nguyên lão, vì vậy chúng luôn là mục tiêu mà Hồ Thủy Nguyên tích cực muốn thu hút họ.

Việc thuyết phục họ cung cấp sản phẩm xuất khẩu cho công ty thương mại nước ngoài và quảng bá dịch vụ của tổ chức Thiên Địa Hội hi

Vì vậy, mối quan hệ giữa hai bên nhanh chóng trở nên thân thiện, và Hội Thiên Địa cũng tận dụng cơ hội này để phát triển khách hàng tại địa phương – khu vực Đảo Hồng Kông có điều kiện sản xuất nông nghiệp không mấy thuận lợi, nên Hội Thiên Địa gần như không có cơ hội thể hiện sức mạnh của mình.

Tất nhiên, cũng có những người tự nguyện hợp tác với người Úc – Lưu Đức Sơn là một trong số đó. Sau khi chứng kiến cách Phục Ba Quân hoạt động một cách công bằng và không gây hại gì tại thị trấn Tam Lương, ông ta nhanh chóng nghĩ đến việc kinh doanh với người Úc.

Lưu Đức Sơn chuyên buôn bán các sản phẩm đặc sản giữa tỉnh Sơn Đông và Quảng Đông. Ông đã từng nghe nói rằng người Úc có những hoạt động kinh doanh rất lớn và hàng hóa của họ rất được ưa chuộng. Bây giờ khi người Úc ở ngay gần đó, cơ hội này tất nhiên không thể bỏ qua. Vì vậy, ngay sau khi cuộc chiến tranh tại lưu vực sông Châu Giang kết thúc, ông ta đã đến Hồng Kông và tìm đến Hoàng Thủy Ngạn, yêu cầu được buôn bán hàng hóa từ Sơn Đông.

Hoàng Thủy Ngạn rất quan tâm đến đề nghị của ông ta. Mặc dù Lưu Đức Sơn chỉ là một thương nhân nhỏ, vốn không lớn, nhưng ông ta rất am hiểu về kinh doanh. Là người Sơn Đông và đã lâu năm buôn bán tại khu vực sông Châu Giang, ông ta rất quen thuộc với tình hình ở cả hai nơi, nên là một đại lý thương mại rất phù hợp – hơn nữa, sức ảnh hưởng của ông ta không lớn, không gây ra những rắc rối không cần thiết.

Với sự hỗ trợ của Hoàng Thủy Ngạn, Lưu Đức Sơn nhanh chóng trở thành đại lý của “Vạn Hữu”, bắt đầu kinh doanh hàng hóa từ Úc. Ông ta rất am hiểu tình hình các thị trấn và làng xã ở khu vực sông Châu Giang, và có thể tiếp cận được những ngôi làng mà trước đây Guangzhou Station khó có thể đến được để tiến hành hoạt động kinh doanh. Ông ta đã dần xây dựng được một mạng lưới thương mại tại các thị trấn và làng xã trong huyện Đông Quán.

Mạng lưới thương mại này hoạt động dựa trên mô hình thương nhân di động và các cửa hàng đại lý địa phương, bán ra nhiều loại hàng hóa như diêm, dụng cụ nông nghiệp bằng sắt mới, các loại thuốc Trung y giá rẻ… đồng thời mua lại các sản phẩm đặc sản địa phương. Mặc dù doanh thu không lớn và lợi nhuận không cao, nhưng ít nhất cũng giúp cho hàng hóa từ Lâm Cao được lan tỏa rộng rãi đến các vùng nông thôn. Khi hàng hóa được phổ biến rộng rãi, quan niệm của mọi người cũng sẽ dần thay đổi theo.

Lưu Đức Sơn cũng đã kiếm được một khoản tiền nhỏ. Mặc dù không kiếm được nhiều, nhưng với trí thông minh của mình, ông ta biết rằng người Úc còn nhiều cơ

1/1 0%