lore

Chương 885: Mã kho lưu trữ quốc gia

9,864 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Kế hoạch của tôi là trước hết phải tiêu chuẩn hóa các bộ phận cấu thành bánh xe Hòa Bình, sau đó thông qua việc đặt hàng để thực hiện hệ thống tiêu chuẩn hóa này,” Thí Thiên Đào nói. “Những người bản địa ở Quảng Đông chắc chắn lúc đầu sẽ không đáp ứng được yêu cầu của chúng ta, nhưng họ luôn mong muốn kiếm lợi nhuận. Chỉ cần chúng ta đưa ra một tiêu chuẩn có thể đo lường được và giúp họ đạt được tiêu chuẩn đó, sau một thời gian họ sẽ có thể sản xuất theo yêu cầu của chúng ta.”

Trước những năm 80, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng khá kém trong việc kiểm soát độ chính xác của các chi tiết sản phẩm. Ngay cả trong lĩnh vực công nghiệp hàng không – nơi đòi hỏi độ chính xác cao – việc sử dụng chung các bộ phận của cùng một loại máy bay vẫn chưa thể thực hiện được. Nếu ngay cả Trung Quốc đã công nghiệp hóa được ba mươi năm vào thế kỷ 20 mà vẫn chưa làm được điều này, thì làm sao lại có thể kỳ vọng vào ngành đóng tàu thủ công của triều đại Đại Minh?

Ô Đức rất nghi ngờ về kế hoạch này. Theo kinh nghiệm của họ, những xưởng thủ công thời đại này, nếu không nằm dưới sự quản lý trực tiếp của các bậc lãnh đạo cao cấp, thì cả chất lượng sản phẩm lẫn hiệu suất sản xuất đều còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa.

“Thành thật mà nói, tôi không mấy tin tưởng vào ý tưởng của bạn,” Ô Đức nói. “Quá trình này quá kéo dài; e rằng không thể thực hiện được trong một sớm một chiều.” Ông cho rằng việc nâng cao trình độ kỹ thuật của các xưởng đóng tàu bản địa đòi hỏi rất nhiều công sức trong việc đào tạo và cải tạo.

Hầu hết các thợ đóng tàu đều không biết chữ; họ dựa hoàn toàn vào trí nhớ để nhớ kích thước và hình dạng của các bộ phận. Kỹ năng được truyền từ người này sang người khác bằng miệng. Việc đặt ra các tiêu chuẩn cho các bộ phận và yêu cầu họ sản xuất theo những quy định cụ thể đối với nhóm người thủ công này, theo Ô Đức, là một khoản đầu tư quá lớn.

Thay vì mất công và thời gian để đào tạo họ, thà rằng chúng ta nên sáp nhập các xưởng thủ công đó, hợp nhất toàn bộ lực lượng lao động của họ lại với nhau, sau đó đào tạo lại các thợ thủ công theo mô hình mới.

“Thành thật mà nói, tôi không mấy lạc quan về ý tưởng của bạn,” Ô Đức nói tiếp. “Tôi đã thấy rất nhiều thợ thủ công bản địa; họ rất khéo léo và thông minh, nhưng việc khiến họ hiểu được các đơn vị đo lường hiện đại là điều rất khó. Chỉ riêng việc đào tạo lại này đã cần rất nhiều nhân lực và thời gian. Bạn nghĩ chúng ta có đủ kiên nhẫn chờ đợi không? Còn đối với những thợ thủ công đã được

Ngay cả khi tỷ lệ thành công chỉ là một phần trăm, điều đó cũng sẽ giúp giảm bớt áp lực sản xuất của chúng ta đáng kể. Hãy thử giao cho họ việc chế tạo những bộ phận nhỏ; ngay cả nếu thất bại, cũng không gây ra ảnh hưởng lớn.”

Ô Đức suy nghĩ kỹ lưỡng rồi đồng ý với kế hoạch của anh ta – tuy nhiên, yêu cầu anh ta chỉ thử nghiệm trong phạm vi nhỏ.

Nhờ vào nỗ lực không ngừng của Thí Thiên Đào, Viện Hoạch Định cuối cùng đã gửi đơn đặt hàng sản xuất 24 chiếc tàu H-800 loại tiêu chuẩn cho xưởng đóng tàu ở Hồng Kông. Theo yêu cầu, Thí Thiên Đào phải hoàn thành ít nhất hai phần ba số đơn đặt hàng này trước cuối năm 1631.

Ô Đức đã phê duyệt danh sách vật tư cần sử dụng và cho phép sử dụng ngân sách để đóng tàu.

Trong ngân sách tài chính năm 1631, Viện Hoạch Định đã được cấp một khoản tiền dành riêng cho việc mua hoặc đóng tàu, nhằm mục đích bổ sung đội tàu vận tải. Một phần số tiền này đã được chuyển cho xưởng đóng tàu ở Lâm Cao để sản xuất 901 chiếc tàu kéo và một số tàu chở hàng gần bờ biển. Phần còn lại vì khả năng sản xuất của xưởng còn hạn chế, nên vẫn chưa được sử dụng.

Ban đầu, Ô Đức dự định chuyển một phần tiền thành ngoại tệ để mua các con tàu lớn loại Guangzhou Ship hay Fuzhou Ship từ Quảng Đông, nhưng do nguồn dự trữ bạc – “ngoại tệ” hiện tại của Viện Nguyên lão đang khan hiếm, việc này vẫn chưa thể thực hiện được.

Tiền được tính bằng loại phiếu thông hành, nhưng vì Thí Thiên Đào đang ở Hồng Kông, và nhiều nguyên liệu cần thiết phải được mua từ Quảng Đông, nên việc sử dụng phiếu thông hành ở đó gặp nhiều khó khăn – phạm vi lưu hành của chúng rất hạn chế, hầu như chỉ trong thành phố Quảng Châu. Việc phiếu thông hành có thể lưu hành được trong phạm vi nhỏ ở Quảng Châu chủ yếu là nhờ vào uy tín và nguồn tài chính của những cá nhân mang tên “Tử”.

Một khi ra khỏi thành phố, phiếu thông hành sẽ mất đi giá trị mua sắm. Vì vậy, Ô Đức nhắc nhở Thí Thiên Đào cần phải đến ngân hàng Delong để xin một lượng “ngoại tệ” nhất định để thanh toán cho các nguyên liệu nhập khẩu từ Quảng Đông.

“Hiện nay, với sự gia tăng giao thương quốc tế, việc sử dụng phiếu lương thực thực sự gặp nhiều bất tiện,” Ô Đức nói. “Không biết những người làm việc trong lĩnh vực tài chính có dự định giải quyết vấn đề này như thế nào… Họ luôn cố gắng tiết kiệm tiền, nhưng có rất nhiều thứ vẫn cần phải chi tiêu bằng tiền mặt mà.”

“Tôi sẽ tiết kiệm một cách có kế hoạch,” Thí Thiên Đào đáp.

“Tôi giao đơn đặt hàng này cho bạn, bạn nhất định phải hoàn thành đúng

“Hãy giao tàu đúng hạn nhé.” Ô Đức vẫy tay nói, “Nếu cậu không làm được, tôi sẽ buộc phải yêu cầu Ủy ban Thực thi tiến hành việc huy động toàn bộ các con tàu của chúng ta vào thời chiến. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động xuất nhập khẩu và việc cung cấp vật tư cho các trạm đặt ngoài nước.”

Thí Thiên Đào muốn áp dụng hình thức sản xuất thuê ngoài, điều này khiến cho vấn đề tiêu chuẩn hóa và quản lý công nghiệp – một vấn đề đã từng được các ủy viên và các bậc lão thành nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhiều lần ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa của Lâm Cao – trở thành một thách thức cấp bách cần giải quyết.

Việc tiêu chuẩn hóa và quản lý công nghiệp không chỉ cần thiết đối với ngành đóng tàu hay các doanh nghiệp công nghiệp. Khi Viện Hoạch Định và Tổng Tham mưu soạn thảo kế hoạch cho các chiến dịch ở Đăng Châu và Chiết Giang, họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc điều phối, vận chuyển, lưu trữ và phân phát vật tư.

Trong quá trình triển khai chiến dịch ở Sanya, Viện Hoạch Định và quân đội cũng đã gặp phải nhiều trở ngại trong việc cung cấp vật tư hậu cần. Mặc dù hệ thống công nghiệp và nông nghiệp của Lâm Cao có thể sản xuất ra nhiều loại hàng hóa với nhiều thông số kỹ thuật khác nhau, nhưng mức độ phức tạp trong việc tổ chức cung ứng lại vượt xa những gì các bậc lão thành dự đoán.

Nếu không có Hồng Hoàng Nam – người có kiến thức lý thuyết vững vàng về công tác hậu cần – đảm nhận việc soạn thảo biểu mục cung ứng, xây dựng quy trình cung ứng, thì công tác cung cấp vật tư cho Sanya chắc chắn sẽ trở thành một thảm họa. Ngay cả khi có những chuyên gia giám sát quá trình cung ứng, vẫn thường xuyên xảy ra các sai sót: những vật tư cần thiết không được vận chuyển, trong khi những vật tư có sẵn ở Sanya lại liên tục được gửi đến; những hàng hóa đáng lẽ phải được chuyển đến Sanya lại bị đưa đến Lệ Châu, còn những hàng hóa được gửi đến Hồng Kông lại bị chuyển đến Sanya… Thậm chí còn có những trường hợp hàng hóa không trùng khớp với thông tin trên biên lai vận chuyển. Trong quá trình kiểm kê, Viện Hoạch Định từng phát hiện ra rằng có một số hàng hóa “mất tích”. Nhưng vài tháng sau, những hàng hóa này lại bất ngờ xuất hiện ở những địa điểm mà không ai ngờ đến.

Trong các chiến dịch ở Đăng Châu và Chiết Giang, công tác cung cấp hậu cần còn phức tạp hơn nữa. Không chỉ phải cung cấp lương thực cho hơn một trăm nghìn người tị nạn, mà còn phải cung cấp quần áo, thuốc men, vật liệu che chắn, cùng với cốc uống nước, bát đĩa để họ ăn uống; phải tổ chức vận chuyển hàng hóa qua lại

Các trạm nghỉ này đều cần phải cung cấp đủ mọi loại vật tư dựa trên số lượng người tị nạn được giữ lại, đến hoặc được gửi đi hàng ngày.

Để đảm bảo việc cung cấp vật tư được thực hiện một cách có tổ chức và chính xác, một cuộc họp liên quan đến các bộ phận đã được tổ chức trong phòng họp của viện. Chủ đề của cuộc họp là xây dựng một hệ thống mã chuẩn hóa.

Cuộc họp này do Viện Hoạch Định chủ trì, nhưng ý tưởng về việc sử dụng mã chuẩn hóa lại được đề xuất bởi Sĩ Khaide và Hồng Hoàng Nam.

Ý tưởng của Hồng Hoàng Nam rất đơn giản: anh ấy muốn thiết lập một hệ thống mã chuẩn hóa để hỗ trợ công tác logistics cho quân đội đang ngày càng mở rộng quy mô và các căn cứ đóng ở nước ngoài. Nếu không, với chỉ khoảng mười nhân viên hậu cần ít ỏi, anh ấy và đội ngũ của mình sẽ không thể đối phó với những nhiệm vụ hậu cần quy mô lớn. Hồng Hoàng Nam thường nói rằng: Trong số các bộ phận quân sự đa dạng ở Lâm Cao, Bộ Tư lệnh Hậu cần là một cơ quan gần như không có vai trò gì cả. Nó không chỉ không có Tư lệnh mà thậm chí còn không có cả lính canh.

Trong khi đó, ý tưởng của Sĩ Khaide lại phức tạp hơn nhiều. Anh ấy đề xuất áp dụng hệ thống này một cách toàn diện vào tất cả các lĩnh vực. Đây là một phần quan trọng trong “chiến lược tiêu chuẩn hóa” mà Viện Nguyên lão đang thúc đẩy.

Tại cuộc họp, Sĩ Khaide đã mang ra một đống tài liệu để chia sẻ với mọi người: đó là một bộ tiêu chuẩn mã quân sự của quân đội Mỹ, có vẻ như không hề liên quan gì đến quân đội Mỹ.

“Đây là nguồn tham khảo quan trọng của chúng ta. Mã chuẩn hóa của quân đội Mỹ: NSN – đó là mã kho hàng quốc gia. Khi quân đội Mỹ quyết định sử dụng bất kỳ loại vật tư nào, họ sẽ đặt cho nó một mã kho hàng. Sau này, dù đó là tại bất kỳ kho hàng hay đơn vị nào thuộc NATO trên toàn thế giới, họ đều sẽ sử dụng mã này làm mã định danh cho loại vật tư đó…” Sĩ Khaide giải thích.

“Một loại vật tư, ví dụ như…”, trước những ánh mắt nghi ngờ của các thành viên Viện Nguyên lão, Sĩ Khaide tiếp tục nói, “ví dụ như chiếc áo khoác kiểu M65 màu kaki, size L này. Dù nó được sản xuất ở Đài Loan hay Mexico, miễn là nó đã qua kiểm định, thì đó vẫn là cùng một loại vật tư. Nhưng nếu đó là chiếc áo size M hoặc màu sa mạc, thì đó lại là một loại vật tư khác, bởi vì người Mỹ không muốn gửi những bộ quân phục màu sa mạc đến cho các đơn vị ở Alaska.”

“Bây giờ, chúng ta có thể đặt một mã cho từng bộ phận của các xưởng đóng tàu. Mã này đi kèm với một bộ hồ sơ đầy đ

1/1 0%